DỊCH THUẬT: 超然台記 (Siêu nhiên đài ký – Tô Thức 蘇軾)

Tô Thức (1037 – 1101) tự là Tử Chiêm, hiệu là Đông Pha cư sĩ, người vùng Mi Sơn (Nay là Mi Sơn vùng Tứ Xuyên). Cha ông là Tô Tuân và em ông là Tô Triệt đều là những nhà cổ văn nổi tiếng, được người đời xưng là “Tam Tô”. Thời Tống Nhân Tông sau khi trúng được Tiến sĩ, được làm quan lại địa phương, chủ trương cải cách nền chính trị tệ hại. Vào thời Tống Thần tông, Vương An Thạch thi hành cải cách chính trị, còn ông thì đi theo phái Cựu đảng, nên bày tỏ sự phản đối. Ông từng giữ các chức quan ở các nơi như Hàng Châu (Nay thuộc vùng Chiết Giang), Mật Châu (Nay thuộc thị xã Chư Thành ở Sơn Đông), Từ Châu (Nay thuộc vùng Giang Tô), đã làm một vài việc có lợi cho cuộc sống bách tính và công việc sản xuất. Thời Tống Triết Tông, phái Cựu đảng chấp chính, bỏ hết chủ trương của phái Tân pháp, ông còn bày tỏ một sự bất mãn nhất định, cho rằng phái Tân pháp vẫn còn có thứ đáng học hỏi. Thái độ của ông khi đứng giữa hai phái Tân, Cựu khiến cho ông không được toàn bộ sự đồng tình và ủng hộ của bất kỳ bên nào. Vào thời Bắc Tống trong khi các đảng phái nhiều lần tranh nhau, khi người thắng khi kẻ bại thì Đông Pha thường xuyên bị biếm trích, cuối cùng ông bị chuyển đi xa tới vùng Quỳnh Châu (Nay thuộc đảo Hải Nam), một đời hết sức bất đắc chí. Thế nhưng xét trên bình diện nghệ thuật, ông là một vị đại tác gia có tài năng trên nhiều lĩnh vực, bất luận là về mặt thi ca hay tản văn, tất cả đều thể hiện những thành tựu vượt bậc của ông trong văn học đời Bắc Tống.

Tô Thức

凡物皆有可觀。苟有可觀,皆有可樂,非必怪奇偉麗者也。哺糟啜醨,皆可以醉;果蔬草木,皆可以飽。推此類也,吾安往而不樂?

Phàm vật giai hữu khả quan. Cẩu hữu khả quan, giai hữu khả lạc, phi tất quái kỳ vĩ lệ giả dã. Bộ tao xuyết li, giai khả dĩ túy; quả sơ thảo mộc, giai khả dĩ bão. Thôi thử loại dã, ngô an vãng nhi bất lạc?

Hễ là sự vật đều có chỗ ngắm nhìn, thưởng thức được. Nếu có chỗ đáng xem được, đều có thứ khiến ta vui được, không nhất thiết phải là những thứ kỳ vĩ hay diễm lệ. Ăn hèm rượu, uống rượu lạt, đều có thể khiến người ta say sưa; cỏ cây rau quả, đều có thể khiến người ta no bụng. Từ đó mà suy rộng ra, ta đi đâu mà chẳng vui?

夫所為求褔而辭禍者,以褔可喜而禍可悲也。人之所欲無窮,而物之可以足吾欲者有盡,美惡之辨戰乎中,而去取之擇交乎前。則可樂者常少,而可悲者常多。是謂求禍而辭褔。夫求禍而辭褔,豈人之情也哉?物有以蓋之矣。彼遊於物之內,而不遊於物之外。物非有大小也,自其內而觀之,未有不高且大者也。彼挾其高大以臨我,則我常眩亂反复,如隙中之觀鬥,又烏知勝負之所在。是以美惡橫生,而懮樂出焉,可不大哀乎!

Phù sở vị cầu phúc nhi từ hoạ giả, dĩ phúc khả hỉ nhi hoạ khả bi dã. Nhân chi sở dục vô cùng, nhi vật chi khả dĩ túc ngô dục giả hữu tận, mỹ ác chi biện chiến hồ trung, nhi khứ thủ chi trạch giao hồ tiền. Tắc khả lạc giả thường thiểu, nhi khả bi giả thường đa. Thị vị cầu hoạ nhi từ phúc. Phù cầu hoạ nhi từ phúc, khởi nhân chi tình dã tai? Vật hữu dĩ cái chi hỹ. Bỉ du ư vật chi nội, nhi bất du ư vật chi ngoại. Vật phi hữu đại tiểu dã, tự kỳ nội nhi quan chi, vị hữu bất cao thả đại giả dã. Bỉ hiệp kỳ cao đại đi lâm ngã, tắc ngã thường huyễn loạn phản phục, như khích trung chi quan đấu, hựu ô tri thắng phụ chi sở tại. Thị dĩ mỹ ác hoành sinh, nhi ưu lạc xuất yên, khả bất đại ai hồ!

Ôi (nguyên nhân) người ta chỉ cầu phúc mà lánh hoạ, vì phúc làm con người vui vẻ (đáng vui) mà hoạ làm con người buồn rầu (đáng buồn) vậy. Cái ham muốn của con người thì vô cùng mà những thứ có thể thoả mãn cái ta muốn thì có hạn. Việc phân biệt giữa đẹp hay xấu thường đấu đá nhau ở trong lòng mình, việc chọn lựa giữa được và mất thay nhau hiện ngay trước mắt mình, như thế thì cái đáng vui thường ít mà cái đáng buồn thường nhiều, cho nên mới nói là phải cầu hoạ mà lánh phúc. Ôi cầu hoạ rồi lánh phúc, đâu phải là chuyện thường tình của con người? Đây là nguyên do mà tâm hồn con người bị ngoại vật che lấp (Vật có lý do (của nó) khi che đậy tâm tính của con người). Con người chỉ hoạt động ở bên trong sự vật mà không thể tìm kiếm ở bên ngoài sự vật. Vật chẳng có lớn có nhỏ, từ bên trong nó mà quan sát được nó, chưa có vật nào bé nhỏ mà lại to lớn vậy. Khi đứng trên sự cao lớn của một vật mà nhìn xuống nhân hoàn, tất khiến ta thường bị hoa mắt, điên đảo, giống như ở trong khe hở mà nhìn người đấu đá nhau, sao có thể biết được nguyên nhân thắng thua? Như thế đẹp xấu cùng giao nhau mà sinh ra, rồi vui buồn cũng từ đó mà xuất hiện, như thế sao có thể không đau khổ cùng cực cho được?

Vật chẳng có lớn có nhỏ, từ bên trong nó mà quan sát được nó, chưa có vật nào bé nhỏ mà lại to lớn vậy.

餘自錢塘移守膠西,釋舟楫之安,而服車馬之勞;去雕牆之美,而庇采椽之居;背湖山之觀,而適桑麻之野。始至之日,歲比不登,盜賊滿野,獄訟充斥;而齋廚索然,日食杞菊。人固疑餘之不樂也。處之期年,而貌加豐, 髪之白者,日以反黑。予既樂其風俗之淳,而其吏民亦安予之拙也。於是治其園圃,潔其庭宇,伐安丘、高密之木,以修補破敗,為苟全之計。而園之北,因城以為台者舊矣,稍葺而新之。時相與登覽,放意肆志焉。南望馬耳、常山,出沒隱見,若近若遠,庶幾有隱君子乎!而其東則廬山,秦人盧敖之所從遁也。西望穆陵,隱然如城郭,師尚父、齊桓公之遺烈,猶有存者。北俯濰水,慨然太息,思淮陰之功,而吊其不終。台高而安,深而明,夏涼而冬溫。雨雪之朝,風月之夕,予未嘗不在,客未嘗不從。擷園蔬,取池魚,釀秫酒,瀹脫粟而食之,曰:“樂哉遊乎!”

Dư tự Tiền Đường di thú Giao Tây, thích chu tiếp chi an, nhi phục xa mã chi lao; khứ điêu tường chi mỹ, nhi tí thái chuyên chi cư; bội hồ sơn chi quan, nhi hành tang ma chi dã. Thủy chí chi nhật, tuế bỉ bất đăng, đạo tặc mãn dã, ngục tụng sung xích, nhi trai trù tác nhiên, nhật thực kỷ cúc, nhân cố nghi dư chi bất lạc dã. Xử chi cơ niên, nhi mạo gia phong, phát chi bạch giả nhật dĩ phản hắc. Dư kí lạc kỳ phong tục chi thuần, nhi kỳ lại dân diệc an dư chi chuyết dã. Vu thị trị kỳ viên phố, khiết kỳ đình vũ, phạt An Khâu, Cao Mật chi mộc, dĩ tu bổ phá bại, vi cẩu hoàn chi kế. Nhi viên chi Bắc, nhân thành dĩ vi đài giả cựu hỹ, sảo tập nhi tân chi. Thời tương dữ đăng lãm, phóng ý tứ chí yên. Nam vọng Mã Nhĩ, Thường Sơn, xuất một ẩn kiến, nhược cận nhược viễn, thứ kỉ hữu ẩn quân tử hồ? Nhi kỳ Đông tắc Lư Sơn, Tần nhân Lư Ngao (1) chi sở tòng độn dã. Tây vọng Mục Lăng, ẩn nhiên như thành quách, Sư Thượng Phụ (2), Tề Uy Công chi di liệt do hữu tồn giả. Bắc phủ Duy thủy, khái nhiên đại tức, tư Hoài Âm chi công, nhi điếu kỳ bất chung. Đài cao nhi an, thâm nhi minh, hạ lương nhi đông ôn, vũ tuyết chi triêu, phong nguyệt chi tịch, dư vị thường bất tại, khách vị thường bất tòng. Hiệt viên sơ, thủ trì ngư, nhưỡng thuất tửu, thược thoát túc nhi thực chi, viết: “Lạc tai! Du tai!”

Ta từ Tiền Đường (Hàng Châu) được điều đến Giao Tây (Mật Châu) nhậm chức tri phủ, an nhàn giong thuyền khua mái mà chịu cái khổ ngồi xe cưỡi ngựa; bỏ đi nơi ở nhà cao cửa rộng mà phó thân ở nơi nhà dột vách xiêu (nhà tranh mái lá); rời bỏ cảnh đẹp của sông núi, nước non mà đi ở nơi đồng không mông quạnh lổm nhổm dâu gai. Lúc mới đến đây, nhiều năm liền mất mùa, giặc cướp tràn khắp vùng, việc kiện tụng thì đầy dẫy còn việc bếp núc thì trống không, mỗi ngày chỉ có ăn rau cỏ thô sơ (ăn rau kỉ, hoa cúc), người người lo rằng ta không vui. Tuy chỉ mới ở đây được một năm, nhưng dung mạo của ta phương phi ra, đầu bạc dần dần chuyển sang đen óng. Ta cũng đã (bắt đầu) thấy vui với nét thuần phác trong phong tục, nhân tình của nơi đây, và chính quan lại cùng bách tính nơi đây cũng đã quen với sự vụng về của ta rồi vậy. Ngay sau đó, ta bèn sửa soạn lại vườn tược, làm sạch phòng ốc, hiên nhà, đốn cây ở vùng An Khâu, Cao Mật hầu tu bổ những nơi hư tổn, hỏng hóc, làm cho những dự tính khác tạm thời được sửa trị. Ở phía Bắc vườn nhà, vì kinh thành cho rằng đài cao đã cũ, nên cần được sửa sang và làm cho mới hơn. Ta ngày thường hay cùng bạn bè lên núi thưởng lãm, đưa mắt trông xa, thoả ý thích chí. Trông ra phía Nam, núi Mã Nhĩ, Thường Sơn, lánh vào sương mây, thoắt ẩn, thoắt hiện, như gần như xa, phải chăng là mấy vị quân tử ưa lánh đời, sống ẩn dật ư? Rồi ở phía Đông đài cao là núi Lư Sơn, cũng là nơi ẩn lánh của những người Lư Ngao thời nhà Tần vậy. Trông ra phía Tây là cửa ải Mục Lăng, rập rà rập rờn như thành như quách và nơi đó vẫn còn lưu lại những chiến công hiển hách của Sư Thượng Phụ (Khương Thái Công), Tề Hoàn Công. Từ trên cao nhìn xuống phía Bắc là sông Duy Thủy, (không hiểu sao mà lòng ta) chợt bùi ngùi thở dài, nhớ về công lao của Hoài Âm mà thương tiếc phận ông chẳng được trọn vẹn. Đài không chỉ cao mà còn kiên cố, không những thăm thẳm mà còn sáng sủa, mùa hạ thì mát mà mùa đông thì ấm, sáng thì mưa tuyết, tối thì gió trăng, ta chưa lúc nào là không đến đây (ta chưa từng chưa đến đây/ ta lúc nào cũng đến đây), khách cũng không lúc nào là không theo ta đến đây. Hái rau trong vườn, bắt cá trong ao, chưng cất rượu nếp, nấu thóc vừa tách mà ăn, cảm thán rằng: “Vui thay! Sướng thay!”

方是時,予弟子由 (3),適在濟南,聞而賦之,且名其台曰“超然”,以見餘之無所往而不樂者,蓋遊於物之外也。

Phương thị thời, dư đệ Tử Do, thích tại Tế Nam, văn nhi phú chi, thả danh kỳ đài viết “Siêu nhiên”, dĩ kiến dư chi vô sở vãng nhi bất lạc giả, cái du ư vật chi ngoại dã.

Trông ra phía Tây là cửa ải Mục Lăng, rập rà rập rờn như thành như quách và nơi đó vẫn còn lưu lại những chiến công hiển hách của Sư Thượng Phụ (Khương Thái Công), Tề Hoàn Công.

Đương khi ấy, em ta là Tử Do, đến vùng Tế Nam, nghe đến chuyện này mà làm nên một bài phú, còn đặt tên cho đài nầy là “Siêu Nhiên”, để thấy rằng ta dẫu có đến chỗ nào cũng đều cảm thấy hân hoan (không có chỗ nào khiến ta cảm thấy không vui), có lẽ vì ta có thể vượt ra bên ngoài vạn vật vậy.

Nguyễn Thanh Lộc dịch

Chú thích

(1) Lư Ngao: Chỉ người nước Yên, Tần Thủy Hoàng ra lệnh cho họ xuống biển tìm tiên dược, không tìm được bèn trốn về quê cũ ở phía Đông Mật Châu.

(2) Sư Thượng Phụ: Lã Thượng, tức Khương Thái Công. Khương Tử Nha, tính Khương, thị Lữ, tên Thượng, tự Tử Nha, lại có tự Thượng Phụ, là khai quốc công thần nhà Chu thế kỷ 12 trước Công nguyên và là quân chủ khai lập nước Tề tồn tại từ thời Tây Chu đến thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc.

(3) Tử Do: Tô Triệt, tự Tử Do, là em của Tô Thức, đương lúc ấy làm thư kí ở Tề Châu (Nay thuộc Tế Nam, Sơn Đông).

Nguồn: Ngô Sở Tài, Ngô Điều Hậu biên tập, Nhóm Lý Mộng Sinh, Sử Lương Chiếu chú thích (2001), Cổ văn quan chỉ thích chú (Quyển thượng), Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã xuất bản, Thượng Hải, Tr. 909 – 914.

Leave a comment