作者:盆小猪
链接:https://www.jianshu.com/p/d03cead05f1a
來源:简书
简书著作权归作者所有,任何形式的转载都请联系作者获得授权并注明出处。
行走世間,都是妖怪
Hành tẩu thế gian, đô thị yêu quái
- Hành tẩu trong nhân gian, đều là ma quỷ –
“Bắc phong tiêu sắt lạc mộc xứ, Tự hữu quỷ khốc tàn chi gian” (北風簫瑟落木處,似有鬼哭殘枝間 – Gió bắc tịch mịch rơi tổ khỉ, Như có quỷ khóc giữa tàn cây). Trong thế gian này có quỷ. Người đã thấy qua chúng, lòng dạ đều đã tỏ rõ, chỉ những người không thuận theo và chưa thấy được mới cần phải nói rõ mà thôi.
Dường như trong tâm khảm của mỗi con người, đều đương ngự trị một con quỷ. Có thể tận mắt nhìn thấy lũ quỷ ngự trị ngay chính trong tâm thức của bản thân thì ta mới có thể thấy tỏ đặng nhân tâm đạo đời.
Bài viết này được tôi hoàn thành trong nước mắt. Và đây là lần đầu tiên, tôi khóc khi viết nên thiên lý luận văn học này.
一.怪力亂神,儒心自辨
Thứ nhất, “quái-lực-loạn-thần, nho tâm tự biệt” (Quái, lực, loạn, thần; tấm lòng nhà nho tự biết phân biệt)
Khổng Tử không nói về (bốn điều này): Quái, lực, loạn, thần (quái dị, dũng lực, phản loạn, quỷ thần) (1) Hàn Dũ làm bài “Đạo thống luận” (Bài luận về sự thống nhất của đạo), bàn về sự truyền bá rộng khắp tư tưởng của Phật – Lão, đã nhắc lại một lần nữa tính cấp thiết, quan trọng trong hệ thống đạo đức Nho gia.

Lý Hạ thời trẻ đã ý thức sâu sắc được những lời tán dương từ Hàn Dũ, Hàn Dũ cũng đã từng làm bài “Húy biện” 諱辯 (vì mến tài y) song bị người đương thời cấu kết hãm hại, gây điều tranh cãi về việc: Trong tên của Lý phụ (tức cha của Lý Hạ) hàm chứa chữ “Tấn” 晉 phạm húy với chữ “Tiến” 進 trong Tiến sĩ 進士
Trong thơ của Lý Hạ chứa đựng rất nhiều hình tượng yêu ma quỷ quái. Ví như “Kiều hồn tòng hồi phong, tử xứ huyền hương nguyệt” (嬌魂從回風,死處懸鄉月 – Hồn phách người con gái đẹp theo gió trở về, Ở chốn tử huyệt rồi mà hãy còn canh cánh nhớ trăng quê nhà), lại có câu “Thu phần quỷ xướng Bảo gia thi” (秋墳鬼唱鮑家詩 – Mồ thu quỷ ngâm thơ Bảo gia).
Việc Lý Hạ mô tả về ma quỷ, phải chăng những tư tưởng trên đi ngược lại với những tư tưởng Nho gia mà Hàn Dũ đã đề xướng?
Những kẻ vì ganh tị mà muốn hãm hại Lý Hạ, trong tâm khảm (của bọn họ) chẳng phải đương hàm dưỡng tánh ma hay sao? Trong thế gian này, các giá trị đạo đức (đã gần như) sụp đổ, phải chăng là do sự hoành hành của “si, mị, võng, lượng” (yêu ma quỷ quái)? Nếu như không có mây đen che lấp mặt trời, làm thế nào (có thể) khơi gợi vừng sáng quang đãng vốn dĩ của càn khôn (,của nhật nguyệt)?
Sở dĩ Lý Hạ viết về quỷ, chỉ do trong thói đời (ô trược), nơi mà ông chạm trán, vốn đã có quỷ rồi vậy.
Thơ Lý Hạ dám viết về quỷ yêu trong khắp cõi nhân gian, chỉ vì y sở hữu một hồn thơ (cao khiết) ví như thần tiên.
Thanh Lê Giản cho rằng: “Luận Trường Cát mỗi đạo thị quỷ tài, nhi kỳ vi tiên ngữ, nãi Lý Bạch sở bất cập” (論長吉每道是鬼才,而其為仙語,乃李白所不及 – Luận về Trường Cát thì mỗi tư tưởng (mà ông ta đề ra không chỉ) là cái tài của quỷ, mà đó còn là ý ngữ của thần tiên, đến cả Lý Bạch đuổi theo cũng chẳng bì kịp)
Tài tiên (tài năng siêu phàm) của Lý Hạ, người xưa đã có kết luận.
Lý Thương Ẩn viết “Lý Trường Cát tiểu truyện”, đã thuật lại một chuyện kỳ lạ lúc Lý Hạ lâm chung:
Lúc Trường Cát sắp mất, ban ngày đột nhiên xuất hiện một người mặc áo lụa đào, cưỡi con cầu long màu đỏ, cầm một cuốn sách chữ giống như chữ triện thời thái cổ hoặc là kiểu chữ sét đánh mạnh in vào đá, nói rằng: “Cho mời Trường Cát”. Trường Cát hiểu nhưng không thể đọc được, miệng ngáp ra lửa, xuống giường khấu đầu, nói rằng trong nhà mẹ góa con côi, tuổi đã già lại bệnh tật (triền miên), vì thế Hạ không chịu đi. Người mặc áo lụa đào kia mới cười nói rằng: “Đế thành Bạch Ngọc lâu, lập chiêu quân vi kí. Thiên thượng sai lạc, bất khổ dã” (帝成白玉樓,立召君為記。天上差樂,不苦也!- Thượng đế đã xây xong lầu Bạch Ngọc, mới lập tức mời ngươi đến làm bài kí. Cõi trời yên vui, không khổ (như trần gian) đâu vậy). Trường Cát một mình khóc lóc, người bên cạnh chứng kiến hết chuyện đó. Chốc lát sau, Trường Cát tắt thở.
Lý Hạ mộng thấy trên trời sai khiển thần nhân (bắt họ) triệu tập lại cùng nhau, ở đây để nói về chuyện Lý Hạ sau khi chết, được lên trời liệt vào hàng tiên giới. Tuy nhiên Lý Hạ nhớ đến mẫu thân tuổi già lại lắm bệnh, cần bản thân mình lo liệu chăm sóc, sau khi chết không thể làm tròn đạo hiếu nên tâm khảm sinh ra lòng bi thương.
Lý Thương Ẩn sanh tâm tiếc tài, than rằng:
嗚呼!天蒼蒼而高也,上果有帝耶?帝果有苑圃宮室觀閣之玩耶?苟信然,則天之高邈,帝之尊嚴,亦宜有人物文采愈此世者,何獨眷眷於長吉而使其不壽耶?噫!又豈世所謂才而奇者,不獨地上少,即天上亦不多耶?
Than ôi! Trời thanh xanh mà cao cả vậy, trên quả có thượng đế chăng? Thượng đế quả có dạo chơi nơi vườn thượng uyển, chốn cung thất, quan các (gác quan sát) hay chăng? Ví thực tin như thế, thì nơi bầu trời cao ngạo, bậc đế thượng tôn nghiêm, cũng nên có người mà văn chương (của họ) vượt hơn hẳn đời này chứ, có sao chỉ quyến luyến mỗi nơi Trường Cát vả khiến y không sống được lâu vậy? Ôi! Lại nữa, người mà người đời gọi là người tài mà lại không tầm thường, há không chỉ mỗi trên đời này ít ỏi, mà (ngay cả) trên trời cũng không nhiều hay chăng?
Nếu như quả thực có thượng thiên, thực có thượng kế xây lập xong lầu quỳnh điện ngọc, thì thực cớ làm sao đế thượng lại chẳng quan tâm đến những chân tình (còn u uẩn) trong cõi nhân gian, lại sanh ngạnh sanh lòng cướp mất Lý Hạ ra khỏi tâm cang của người đời? Trong ngàn vạn người tài trên thế giới, cớ sao ông (ý chỉ thượng đế) lại sanh ra một Lý Hạ phải nếm trải (quá nhiều) khổ nạn trong cõi nhân hoàn này? Y nói trên trời không nhiều đau khổ, cái khổ ở trời, làm sao người đời có thể thấu tỏ được? Vì vậy, chúng ta đành phải tự an ủi bản thân mình rằng: Có lẽ sự tài hoa trác tuyệt của Lý Hạ xưa nay, đến ngay cả trên trời cao hay dưới đất dày, đều hiếm khi có đặng vậy.
Nhưng mà trong tâm trí người đời, rốt cuộc cũng đã cảm thấy hối hận. Tác phẩm “Thái Bình Quảng Kí” 太平廣記 đã viết tiếp câu chuyện trên (của Lý Thương Ẩn), (trong đó) nói rằng mẹ của Lý Hạ vì thương con trai đương độ tráng niên lại phải chết sớm nên đau buồn không chịu đựng được, đến đêm nằm mộng thấy Lý Hạ đứng trước mặt:
一夕,夢賀來,如平生時,白夫人曰:“某幸得為夫人子,而夫人念某且深,故從小奉親命,能詩書為文章。所以然者,非止求一位而自飾也,且欲大門族,上報夫人恩。豈期一日死,不得奉晨夕之養,得非天哉!然某雖死,非死也,乃上帝命。
Một đêm nọ, (bà mẹ) mộng thấy Hạ tới, như lúc bình sinh (còn sống), (Hạ) cáo bạch với bà mẹ rằng: “Con may mắn được làm con của mẹ, thế mà mẹ nay lại nhớ nghĩ đến con vả lại mười phần sâu đậm, cho nên từ nhỏ phụng mệnh thân sinh, đã có thể đọc sách làm văn chương. Sở dĩ làm như thế, (để) không chỉ tìm lấy một chức vị hầu tô điểm cho bản thân, mà còn muốn cho gia tộc rạng danh, (vì) trước (muốn) đáp đền công ơn của mẫu từ vậy. Há đâu liệu đến một ngày chết đi, không được sớm chiều phụng dưỡng (song thân), ắt hẳn là do ý trời vậy thay! Như thế thì con tuy chết đi, (vẫn) chưa hẳn là chết vậy, (chẳng qua) là mệnh lệnh của Thượng đế thôi”.
Song, tôi nghĩ rằng, điều bi thương thực sự lại nằm ngay ở chuyện, Lý Hạ “từ nhỏ phụng mệnh song thân”, chuyên nghiền thi ngẫm văn; đi sâu vào bài nghiên cứu này rồi, (tôi mới thấy), sanh mạng, với Lý Hạ, hẳn nhiên chỉ có thi – thư – văn – chương (thơ ca chữ nghĩa), chứ nhất định không vì công danh lợi lộc ngõ hầu tỏ mặt tỏ mày. Người làm thơ dốc hết tâm huyết, lại gạt bỏ đi những danh lợi (phù phiếm) trong thế gian, để rồi cuối cùng chấp nhận đau thương chịu lấy cái chết. (2)
Lý Hạ đem tấm lòng tiên nhân, quán chiếu đám quỷ (lúc nhúc) trong tâm thức của người đời. Ông viết về đám quỷ này để rồi sau đó chết đi (cũng vì lũ quỷ này).
Lý Hạ (dốc chí) học hành, (thế mà) rốt cuộc chưa lập được công danh, báo đáp song thân, rạng rỡ công môn. Đáng tiếc là sống chết có số, nên không trọn được đạo hiếu! Cũng bởi mệnh trời sai sử như thế, không có thứ gì của con người có thể chống lại được. Phải chăng những kẻ say đắm với văn chương, đều khó lòng có được một cái kết có hậu?
Lý Hạ thấy được “quỷ” trong cõi nhân hoàn, dám vạch ra những trạng huống trong cái xã hội nơi mà yêu ma quỷ quái hoành hành.
Thế nào là “quỷ”? Trong chương Tế Nghi sách Lễ Kí có viết: “Chúng sanh tất tử, tử tất quy thổ, thử chi vị quỷ” (眾生必死,死必歸土,此之謂鬼 – Chúng sanh (trong đời) ắt phải chết, chết rồi ắt phải về đất, đó gọi là quỷ”. Trong “Thuyết văn” có nói: “Nhân sở quy vi quỷ” (人所歸為鬼 – Nơi mà con người trở về gọi là quỷ). Cho nên người chết, ắt sẽ trở thành quỷ.

Chẳng nhẽ con người khi đã chết đi rồi không phải sẽ khói tan mây tản (tiêu tan hết), bất cứ thứ gì cũng đều không còn nữa hay sao?
Người chết gọi là “quỷ”. “Quỷ” ắt không phải bắt đầu từ nghĩa trong chữ “Quỷ hồn” mà là một cách gọi đối với người đang trong trạng thái tử vong.
Ở trong Giáp cốt văn có chép, chữ “quỷ” được viết như “một tấm khiên che đầu người sống”.
Hình tượng tấm khiên thời xưa mang ý nghĩa chiến đấu, biểu thị sự che chở hay là ngăn chặn, đồng thời, cũng để biểu thị sự bảo hộ.
Từ đó, hàm nghĩa của chữ “quỷ” chính là: Một người bị ngăn cách với những thông tin lẫn sự trao đổi vật chất bên ngoài bản thân mình.
Đến đây, vấn đề mấu chốt đã xuất hiện.
Đã bị ngăn trở thì tức đang có một loại sự vật (một thứ gì đó) tồn tại ở đằng sau lớp vỏ bọc (vật chất).
Và ý nghĩa về việc “bảo hộ” mà bản thân lớp vỏ bọc (vật chất) này còn bao hàm có thể khiến cho lớp màng chắn này mang hàm nghĩa bảo vệ sự tồn tại của một sự vật nào đó.
Cho nên khái niệm về cái chết trong văn hóa cổ đại đều bắt nguồn từ những hình tượng của chữ “quỷ”, cho rằng, cái chết (chẳng qua) chỉ là một giai đoạn mà khi sống phải trải qua, hơn nữa giai đoạn này còn là sự tiếp nối của cuộc sống đứng trên bản chất (mà nói).
Sự tồn tại của sinh mệnh, chứa đựng những điểm không giống nhau giữa khi sống và khi chết, nó nằm ở chỗ, cái chết chẳng qua chỉ là sự gián đoạn về mặt giao tiếp giữa con người với thế giới bên ngoài.
Do đó có thể thấy, thế giới của linh hồn, chung quy là do người sống lấy (cái nhìn của) bản thân làm tham chiếu (thước đo vạn vật) để từ đó đưa ra những định nghĩa.
Người chết làm quỷ, quỷ chết làm “tích”. (3) Vậy tích chết làm gì? Do đó có thể thấy ma quỷ không phải là trạng thái cuối cùng của cái chết. Cuộc sống của con người thì ngắn ngủi mà cái chết lại là thứ vô biên. Chính vì thế, sự tồn tại mỗi trạng thái của cái chết, đồng nghĩa với việc sự sống của những trạng thái đó thảy đều là những thứ vô tận vậy.
Người bị người đời ghét bỏ, mới có thể bước vào thế giới vô tận của sinh tử, mới có thể thấy được yêu ma quỷ quái trong thế gian.
二.魑魅魍魎,橫行世間
Thứ hai, si – mị – võng – lượng, hoành hành thế gian.

Bài đánh giá trong “Tuế hàn đường thi thoại”《歲寒堂詩話》đối với Lý Hạ có viết như thế này:
李賀有太白之語,而無太白之才。太白以意為主,而失於少文;賀以詞為主,而失於少理。
Lý Hạ có cái lời của Lý Bạch nhưng lại không có cái tài của Lý Bạch. Lý Bạch tức lấy ý tứ làm chủ thể cho nên mất đi vì thiếu văn; Hạ lấy từ ngữ làm chủ thể cho nên mất đi vì thiếu lý.
Thơ ca của Lý Hạ thiếu hẳn đi chữ “lí”, Đỗ Mục đời nhà Đường có thiên bình luận về Lý Hạ mà ở đây ta có thể tham khảo được. Đỗ Mục trong “Lý Trường Cát ca thi tự”《李長吉歌詩敘》có viết:
蓋”騷”之苗裔,理雖不及,辭或過之… 世皆曰:使賀且未死,少加以理,奴僕命”騷”可也。
Cho nên (có quyền gọi Lý Hạ) là hàng miêu duệ (con cháu) của Ly Tao, dù về nghĩa lý tuy không bằng nhưng ngôn từ có chỗ hơn cả Ly Tao… Người đời đều cho rằng: Giả sử Hạ vẫn chưa chết, những điểm khiếm khuyết được bổ sung vào bằng “lí”, có khả năng Ly Tao phải chịu phục tùng (thua) vậy.
Ý nói, trong thơ của Lý Hạ có nói về quỷ, đó là kế thừa từ trong mạch nguồn văn học của Ly Tao. Nếu như Lý Hạ có thể sống thêm vài năm nữa, rất có thể tánh “lí” sẽ dung nhập vào trong những sáng tác thi ca của ông, điều đó đồng nghĩa, tánh học thuật trong (các sáng tác) nghệ thuật của ông sẽ đạt tới trình độ (đáng kể), thậm chí vượt hơn cả Sở từ.
Thế thì, ma quỷ, linh hồn trong Sở từ có hình dạng như thế nào?
Trong bài Quốc Thương 國殤, nằm trong nhóm thơ Cửu Ca 九歌 thuộc thể loại Sở từ 楚辭, có viết hai câu như thế này:
身既死兮神以靈,魂魄毅兮為鬼雄。
Thân ký tử hề thần dĩ linh,
Hồn phách nghị hề vi quỷ hùng.
(Chết rồi thân vẫn không nhoà
Phách hồn rắn rỏi làm ma anh hùng)
Hai câu thơ này, đã biểu lộ (một điều) rằng người nước Sở thời cổ đại đối với quan điểm về những linh hồn sau khi hy sinh của những người anh hùng (trong thời chiến): Sau khi xác phàm bị tiêu vong sẽ tồn tại bóng dáng của linh hồn, linh hồn sẽ lưu giữ, giữ gìn những tinh hoa tinh thần lúc sanh tiền của người chết.
Vì có việc tồn tại của linh hồn con người sau khi chết nên những tình cảm ngưỡng phục và thương tiếc của người sống có thể truyền đạt tới đến người đã chết.
Nhân đó, trong bài Lễ hồn 禮魂 có miêu tả rằng:
成禮兮會鼓,傳芭兮代舞;
姱女倡兮容與;
春蘭兮秋菊,長無絕兮終古。
Thành lễ hề hội cổ, truyền ba hề đại vũ;
Khoa nữ xướng hề dung dữ;
Xuân lan hề thu cúc, trường vô tuyệt hề chung cổ
(Trống vang báo hiệu lễ đã xong, cho cỏ ba cử nên điệu múa
Thiếu nữ xinh đẹp cùng hòa tiếng ca
Xuân lan rồi lại thu cúc, vĩnh viễn khôn cùng)
Hình thức “lễ hồn” trong thơ, đã biểu lộ rõ ràng thái độ của người sống đối với linh hồn của những người chết: Nên đem việc tế tự mà bày tỏ sự tưởng nhớ, để anh linh người đã khuất được trường tồn, vĩnh cửu.
Trong một vài nội dung mà “Sở từ” miêu tả có miêu tả cuộc sống trong dân gian, cũng nhấn mạnh đến hoạt động của việc tế tự.
Chu Hi 朱熹 trong “Sở từ biện chứng”《楚辭辯證》có luận về “Cửu ca” như sau:
比其類,則宜為三《頌》之屬;而論其辭,則反為《國風》再變之《鄭》、《衛》矣。
Bỉ kì loại, tắc nghi vi tam “tụng” chi thuộc; nhi luận kì từ, tắc phản vi “Quốc phong” tái biến chi “Trịnh”, “Vệ” hỹ.
(Ví như loại này (tức Sở từ), thì có lẽ là thuộc trong ba bài “tụng”; mà luận về bài từ này, thì trái với các thơ trong “Trịnh (Phong)”, “Vệ (Phong)” là do “Quốc Phong” biến đổi nhiều lần).
Trần Bổn Lễ đời Thanh trong “Khuất từ tinh nghĩa” 屈辭精義 có nói rằng:
《九歌》之樂。有男巫歌者。有女巫歌者;有巫覡並舞而歌者;有一巫唱而眾巫和者。
“Cửu ca” chi nhạc. Hữu nam vu ca giả. Hữu nữ vu ca giả. Hữu vu hích tịnh vũ nhi ca giả; hữu nhất vu xướng nhi chúng vu hòa giả”
Âm nhạc của “Cửu ca”. Có ông đồng cốt ngâm nga. Có bà đồng cốt ngâm nga; cũng có những người đồng bóng vừa múa vừa ngâm nga; hoặc có một người thầy đồng ca nhưng cả đám người đồng bóng hòa giọng theo.
Ở đây nói rõ, quan niệm về linh hồn trong “Cửu ca”, được quán triệt thực hiện trong các hoạt động tế lễ thuộc bộ phận trong văn hóa phù thủy (hay đồng cốt), đồng thời, ngôn ngữ của loại hình tế tự này phù hợp với nhu cầu văn hóa của dân chúng đương thời, mượn dân chúng làm vật tiếp nhận và thực hiện những hành vi đó.
Mục đích của hoạt động tế tự, nhằm để tăng cường tinh thần phẩm chất đối với các gia đình sống ở nước Vệ và tất nhiên sẽ châm đúng vào hạng dân chúng phổ thông. Loại hình quan niệm linh hồn này, do đó được dùng để giáo dục cho người dân. Tín ngưỡng về linh hồn trong dân gian từ đó được củng cố và phát triển.
Trong quan niệm (về linh hồn) này, đã được giới bình dân tiếp nhận và cũng được giới quý tộc tiếp thu.

Thế nhưng quỷ quái trong thơ của Lý Hạ, tuyệt nhiên không giống với hồn ma trong “Cửu ca”.
Thử nhìn bài thơ “Công vô xuất môn”《公無出門》của Lý Hạ:
天迷迷,地密密。
熊虺食人魂,雪霜斷人骨。
嗾犬狺狺相索索,舐掌偏宜佩蘭客。
帝遣乘軒災自息,玉星點劍黃金軛。
我雖跨馬不得還,歷陽湖波大如山。
毒虯相視振金環,狻猊猰貐吐饞涎。
鮑焦一世披草眠,顏回廿九鬢毛斑。
顏回非血衰,鮑焦不違天;
天畏遭銜囓,所以致之然。
分明猶懼公不信,公看呵壁書問天。
Thiên mê mê, địa mật mật.
Hùng hủy thực nhân hồn, tuyết sương đoạn nhân cốt.
Thốc khuyên ngân ngân tương sách sách, thỉ chưởng thiên nghi bội lan khách (4).
Đế khiển thừa hiên tai tự tức, ngọc tinh điểm kiếm hoàng kim ách.
Ngã tuy khóa mã bất đắc hoàn, Lịch Dương hồ ba đại như sơn.
Độc cầu tương thị chấn kim hoàn (5), toan toan khiết dũ (6) thổ sàm diên.
Bào Tiêu (7) nhất thế phi thảo miên, Nhan Hồi (8) nhập cửu tấn mao ban.
Nhan Hồi phi huyết suy, Bào Tiêu bất vi thiên.
Thiên úy tao hàm khiết, sở dĩ trí chi nhiên.
Phân minh do cụ công bất tín, công khán ha bích thư vấn thiên (9).
(Trời mê mẩn, đất chập chùng,
Hùng hủy ăn hồn người, tuyết sương chẻ xương người,
Chó gầm gừ (cả bầy) cùng lo lắng, liếm bàn tay hết sức đón mừng (khi thấy) khách bội lan,
Thiên đế lệnh người ngồi xe tai ách tự nhiên tiêu trừ, cầm thanh kiếm khảm nạm ngọc tinh, rồi tựa lưng vào cây ách ánh vàng,
Ta tuy đã cưỡi ngựa phóng đi vẫn chưa được trở về, (cũng vì) hồ Lịch Dương sóng nổi cao như núi,
Lũ cầu long độc hiểm dấy mình khua động cả loài rắn kim hoàn (chỉ loại rắn cạp nong), sư tử và khiết dũ hiện ra (tìm mồi), tham ăn mà chảy cả nước dãi,
Bào Tiêu một đời vạch cỏ mà ngủ, Nhan Hồi mới hai mươi chín tuổi mà lông tóc đã lốm đốm bạc,
Nhan Hồi chết vì mặt cắt không còn một giọt máu đến nỗi suy kiệt, Bào Tiêu chết vì không sợ trời,
Trời lại sợ gặp phải bọn nhấm nhai người tài, cho nên mới đến nỗi như thế,
Thiên đạo phân minh còn sợ ông không tin tưởng, ông nhìn xem lời mắng nhiếc trong bài “Thiên vấn” (mà Khuất Nguyên đã viết) trên bức vách (trong Sở miếu) đi sẽ rõ).
Bài thơ này thuộc thể Nhạc Phủ, được cải biên từ bài “Công vô độ hà” 公無渡河, kế thừa những ý tứ từ bài Chiêu hồn thể Sở từ, (trong đó) đã minh giảng được sự hiểm ác của lòng người trong chốn nhân hoàn. Tuy nhiên, sự hiểm ác ấy, không hề có chỗ đứng trong công cuộc sinh tồn của những người mang danh là “khách bội lan”. Mà ở trong thơ, (các tác gia) hay thường dùng điển tích Nhan Hồi (ngõ hầu minh chứng cho luận điểm trên), Nhan Uyên tài hoa song yểu mệnh, so với Lý Hạ phải chăng tất thảy những ý ngữ (trong thơ) đã trở thành lời sấm ký (cho cuộc đời y) đó sao!
Bài thơ còn là bản cáo trạng (đanh thép) mà Lý Hạ (muốn vạch ra) hầu phê phán bọn vua quan chuyên quyền trong công cuộc phân chia cục diện phiên trấn (đất đai). Thế nhưng, nội hàm của bài thơ không chỉ dừng ở đó.
Nhan Hồi bạc đầu, hoàn toàn không phải do suy huyết, Bào Tiêu đạo cao đức trọng, chỉ vì chuyện ăn táo mà lại bị người đời chỉ trích, nôn ra mà chết, lý trời có còn không?
Thực có! Trên trời sợ bọn họ bị quái thú ăn thịt nên để bọn họ chết sớm vậy!
Luận điểm này liệu có thông chăng? Đã từng có chuyện một con gấu mẹ bị người ta cầm tù móc mật, (vì) không muốn con cái (mình) bị loài người hành hạ tàn nhẫn nên (chúng) mới cắn chết lũ gấu con mà mình vừa sinh hạ. Đây không phải là lý trời mà là điều bi thảm chí nhất trong cõi nhân hoàn vậy!
Người bị thói đời bài xích đến chết thì (mấy) ai lại đòi sống trong ấy? Ai lại không (muốn) có quyền lực để tồn sanh? Thế nhưng (bọn họ đều) chết cả rồi. Quyền lực vả chăng chỉ là sự tự an ủi bản thân và cái chết (đối với họ) thực ra chỉ là vì trên trời không cam để bọn họ chịu khổ mà thôi.
“Đế khiển thừa hiên tai tự tiêu”, các vị thánh minh tiên đế giỏi trị thế như Nghiêu, Thuấn đều chỉ nằm ở trong sách vở. Trên thế gian này chỉ thấy bọn hiểm ác si mị võng lượng (yêu ma quỷ quái) ăn thịt người. Tuy nhiên, (tôi tự hỏi) dù thế giới có gian nan tới đâu, (vẫn còn những kẻ có học có ăn đủ sức hoán chuyển tình hình), bọn học giả (có trí) kia cớ sao lại quên mất rằng chính bản thân mình đã từng đọc qua cái đạo trị đời của Nghiêu, Thuấn? Ở đây không chỉ tới bản tâm không- thể-quên mà ám chỉ tới khát vọng khởi sự từ cuộc sống của bản thân và nhấn mạnh đến việc mỗi học giả, mỗi người có học đều được ông trời thiên phú cho một sứ mệnh (buộc họ phải) như thế. Tuy nhiên si mị võng lượng trong thế gian này, luôn ham muốn độc lấy hồn phách của những kẻ có học mà nhai, mà nuốt.
Thế là những người có học ngẩng đầu hỏi trời xanh, giống như chuyện Khuất Nguyên năm ấy vướng lời sàm tấu sau khi bị biếm trích, thấy trên điện thờ bậc công khanh, ngay điện miếu của tiên vương nước Sở, có vẽ lại cảnh tượng kì đủ loại cảnh tượng trời đất quỷ thần trổi lên kì lạ, y bèn viết ngay bài “Thiên vấn” tỏ ý trách mắng trước bức vách, miêu tả nỗi sầu bi và niềm bi phẫn tràn đầu trong lòng.
Lịch sử luôn luôn chuyển động. Những chất vấn của Khuất Nguyên đã tra xuất được (một cách tường minh) niềm phẫn hận trong lòng của văn nhân thời xưa. Do đó Lý Hạ mời ngôn bàn về chuyện quỷ quái, vậy có dính dáng gì tới Ly Tao? Chung quy vẫn nằm ở sự xung đột giữa cái tâm cầu đạo của nhà văn và cái cõi nhân hoàn hiểm ác.
Dòng ba đào nịch nhân hung dũng làm trở ngại bước đi của con người ở đây không đáng để bàn đến vậy thay! Bởi vì cuộc sống là như thế, mấy ai có thể thuận buồm xuôi gió, vạn sự như ý được? Điều đáng sợ là có vài kẻ khẩu Phật tâm xà (miệng nam mô bụng một bồ dao găm), chịu liếm tay bạn làm hài lòng bạn, nhưng thật ra chỉ là một lũ yêu ma quỷ quái chực chờ ngõ hầu nuốt trọn bạn mà thôi.
Chết chóc, quỷ ma, ở trong thơ của Lý Hạ, đã làm mờ đi cái sắc thái diễm lệ khả ái ở trong Sở từ. Sự mỹ lệ kì khôi của chúng nó (chỉ bọn ma quỷ), chỉ nhằm làm nổi bật đến sự quỷ quyệt mưu chước của chúng mà thôi.
Ly Tao vì những văn nhân bị người đời vứt bỏ, mà viết nên (thế giới) hoàn mỹ của những hồn ma phi trần hoàn. Lý Hạ vì những văn nhân bị người đời hãm hại mà vạch trần sự ghê tởm của bọn “long xà quỉ vực” tự người đời hóa thành vậy.
Thơ của Lý Hạ, thật khiếm khuyết chữ “lí” sao? Thi có ba trăm thiên, nhưng chỉ một lời có thể thâu tóm được tất cả gọi là: Không nghĩ bậy (Tư vô tà) (10), tức tồn hữu thứ truyền thống bi ai nhưng không quỵ lụy. Tuy nhiên, trong thơ Lý Hạ, luôn luôn đem tình riêng mà đẩy lên đến cực độ. Do đó, trong thơ Lý Hạ không có chữ “lí” vậy?
Nói qua cũng phải nói lại.
Phàm là sự vật, hễ bất bình thì lên tiếng. Thơ Lý Hạ, khởi sự từ cái tâm của ông. Tâm ngoại vô lí (11). Thơ y tuy đã được rèn giũa qua, nhưng cũng phải có tình mới phát tiết ra được, ý chí tự sinh, có thể gọi là không có “lí” chăng? Cõi đời đã không có “thiên lí”, cớ sao ta phải buộc thi nhân đi tìm cái “lí” từ một nơi nào đó cơ chứ?
Sự khôi vĩ hoa lệ này chính là cái “lí” có trong thơ ca của Lý Hạ vậy!
(1) Chương Thuật Nhi 述而, Luận ngữ 論語
(2) Thật đau lòng thay! Khi dịch ý này, tôi lại nhớ đến mấy câu thơ của Đỗ Phủ: “Văn chương tăng mệnh đạt, Si mị hỉ nhân qua” 文章憎命達, 魑魅喜人過 (Thiên mạt hoài Lí Bạch 天末懷李白) Văn chương ghét hạnh vận hanh thông, Yêu quái mừng khi thấy có người qua.
(3) Ma chết gọi là tích 聻. Câu này lấy ý từ trong Liêu trai chí dị 聊齋志異: Nhân tử vi quỷ, quỷ tử vi tích. Quỷ chi úy tích, do nhân chi úy quỷ dã 人死為鬼, 鬼死為聻. 鬼之畏聻, 猶人之畏鬼也 (Chương A Đoan 章阿端) Người chết thành ma, ma chết thành tích. Ma sợ tích, cũng như người sợ ma vậy
(4) Khách bội lan: Chỉ những người cao thượng, đức hạnh. Lấy từ “Ly tao” của Khuất Nguyên.
(5) Kim hoàn: Hay Kim hoàn xà, là loài rắn cạp nong, có những hoa văn như những chiếc vòng đeo tay bằng vàng của phụ nữ in trên thân thể, là loài rắn cực độc.
(6) Khiết dũ (Hoặc nghiệt dũ): Là một giống thú dữ có trong sách cổ.
(7) Bào Tiêu: Một người ẩn sĩ thời nhà Chu, là người cố chấp, thủ cựu, chỉ ăn đồ mình tự trồng, uống nước mà mình tự đào, chỉ mặc áo do vợ mình may, tối thường vạch cỏ ra mà ngủ. Ứng Thiệu 應劭 trong Phong tục thông nghĩa《風俗通義》quyển ba chương Khiên lễ《愆禮》có viết:“鮑焦耕田而食,穿井而飲,非妻所織不衣,餓於山中食棗。或問之:’此棗子所種耶?’遂嘔吐立枯而死。” (Bào Tiêu tự canh tác mà kiếm ăn, tự đào đất mà kiếm cái uống, không phải là áo do vợ mình may thì không mặc, khi ở trong núi mà đói thì ăn táo. Có kẻ hỏi y: “Táo này là giống do ông trồng ư?” Bèn nhổ ra hết, khô vằn (bệnh) rồi chết).
(8) Nhan Hồi: Học trò của Khổng Tử, tài năng, uyên bác nhưng chết sớm.
(9) Ha bích thư Thiên vấn: Lấy tích Khuất Nguyên vì bị bọn gian thần sàm tấu tâu lên vua nên ông bị biếm truất. Ở miếu tiên triều nước Sở có vẽ các loại hình tượng núi sông thần linh, ở đó, ông viết ra bài Thiên vấn, buông lời mắng nhiếc trên bức vách, thể hiện niềm bi phẫn đau khổ cực độ của một trung thần.
(10) Luận Ngữ: “Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: “tư vô tà”” 詩三百, 一言以蔽之, 曰: 思無邪 (Vi chính 為政)
(11) Tâm ngoại vô vật, Tâm ngoại vô lí “心外無物,心外無理” là tư tưởng học thuật do Vương Dương Minh 王陽明 (hay Vương Thủ Nhân 王守仁) đề xuất, nhằm lí giải những huyền bí có trong vũ trụ, hầu đạt đến một trình độ nhận thức vạn vật với điều kiện chỉ cần nhìn lại nội thức lương tri của bản tâm. Đời Tống có học giả triết học tên Lăng Cửu Uyên 陸九淵 có đề xuất tư tưởng “Tâm tức lí dã” “心即理也” cho rằng “Vũ trụ tức thị ngô tâm, ngô tâm tức thị vũ trụ” “宇宙即是吾心,吾心即是宇宙” (Vũ trụ tức là tâm ta mà tâm ta tức là vũ trụ), Vương Thủ Nhân đã kế thừa và khai triển thêm thành tư tưởng “Tâm ngoại vô vật, tâm ngoại vô sự, tâm ngoại vô lí” “心外無物、心外無事、心外無理” đặt chữ 心 (tâm) đến cảnh giới cao nhất “tâm tức đạo, đạo tức tâm” 心即道,道即心.
