DỊCH THUẬT: 續子不語 Tục Tử bất ngữ (Kế tiếp “Những điều Khổng Tử không nói”) – Viên Mai 袁枚

Viên Mai 袁枚

Viên Mai 袁枚 (1716-1797) là thi nhân và tản văn gia đời Thanh, tự Tử Tài 子才, hiệu Giản Trai 簡齋, biệt hiệu Tuỳ Viên lão nhân 隨園老人, cuối đời còn có tự hiệu Thương sơn cư sĩ 倉山居士 (có nơi viết là 蒼山居士), người Tiền Đường (nay thuộc Hàng Châu, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc). Ông là một thi nhân tiêu biểu đời Càn Long, Gia Khánh, cùng với Triệu Dực 趙翼, Tưởng Sĩ Thuyên 蔣士銓 được xưng là Càn Long tam đại gia. Ông đỗ tiến sĩ năm Càn Long thứ 4 (1739). Tác phẩm tiêu biểu của ông có Tuỳ Viên thi thoại 隨園詩話, Tiểu Thương Sơn phòng thi tập 小倉山房詩集.

Trong số những tác phẩm để đời của Viên Mai, có Tử bất ngữ 子不語 và Tục Tử bất ngữ 續子不語. Nếu Tử bất ngữ được coi là một trong những tác phẩm đặc sắc của dòng tiểu thuyết quái dị của văn học cổ Trung Quốc thì Tục Tử bất ngữ là những câu chuyện nối tiếp những câu chuyện còn dang dở của Tử bất ngữ. Xưa nay, Khổng Tử cho rằng không nên bàn luận về những chuyện yêu ma quỷ quái, bạo lực, phản loạn, thần thánh mà nên giữ hai chữ trung tín trong đạo làm người. Quỷ thần nên kính nhưng hãy tránh xa… Thế nhưng Viên Mai lại viết Tử bất ngữ, theo như dịch giả Cao Tự Thanh cho biết là “xuất phát từ ý hướng nói những điều Khổng Tử không nói”. Tập sách đã phản ánh đúng thực trạng xã hội quan liêu và cuộc sống của con người thời đó. Không những thế, Tục Tử bất ngữ, khi nối tiếp Tử bất ngữ đã nối tiếp những giá trị mới ẩn sau những mẫu chuyện nhỏ nhắn, ngắn gọn, là hậu duệ của Liêu trai chí dị (Bồ Tùng Linh) mượn chuyện ma quỷ để nói chuyện người. Nếu ngẫm kĩ thì đây không chỉ là những mẫu chuyện vụn vặt mà còn chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc. Dưới đây là một số câu chuyện được dịch lấy từ Tục Tử bất ngữ.

Tục Tử bất ngữ (Viên Mai – đời nhà Thanh)

照心(Chiếu tâm bào – Túi chiếu rọi tâm can)

Diêm Vương (khi nhận nhiệm vụ) tra vấn thiện ác trong cõi dương gian, trước tiên dùng tấm áo có làn bọc ngoài khoác lên thân người, giống như hình dạng cái miệng chuông trong cõi nhân hoàn vậy. Người mặc chiếc áo này, những chuyện (thiện ác) hư nhược hồ đồ khi sống bất giác tự thốt ra hết thảy.

Nguyên văn: 錢塘錢蔭庭云:曾從天津買舟回杭,同舟楊姓者,無錫秀才,日坐舟中,默默罕言。錢因其木訥,亦不與共談。一日偶言因果,錢甚不信,楊因極言其有,且云一月內有數夜往陰間公差,專司鉤取人命之事,皆以一紙票注其人名。若有一命之榮及侯王將相,必加一硃印,如人間官府牌票。其印文彷彿官印篆法,但不識其為何字。閻王訊問陽間善惡,先用一袍罩人身上,如人間一口鐘之樣。人著此衣,在生曖昧虧心之事不覺自吐。陰間待人極寬,人在陽間有一惡念,若復有一善念,即將前惡念銷去。司此印者,前明於忠肅公掌之,至今尚未遷去。

Phiên âm: Tiền Đường Tiền Ấm Đình vân: Tằng tòng Thiên Tân mãi chu hồi Hàng, đồng chu Dương tính giả, Vô Tích tú tài, nhật tọa chu trung, mặc mặc hãn ngôn. Tiền nhân kỳ mộc nột, diệc bất dữ cộng đàm. Nhất nhật ngẫu ngôn nhân quả, Tiền thậm bất tín, Dương nhân cực ngôn kì hữu, thả vân nhất nhật nội hữu sổ dạ trú âm gian công sai, chuyên ti câu thủ nhân mệnh chi sự, giai dĩ nhất chỉ phiếu chú kỳ nhân danh. Nhược hữu nhất mệnh chi vinh cập hầu vương tương tướng, tất gia nhất chu ấn, như nhân gian quan phủ bài phiếu. Kỳ ấn văn phảng phất quan ấn triện pháp, đãn bất thức kỳ vi hà tự. Diêm Vương tấn vấn dương gian thiện ác, tiên dụng nhất bào tráo nhân thân thượng, như nhân gian nhất khẩu chung chi dạng. Nhân trước thử y, tại sinh ái muội khuy tâm chi sự bất giác tự thổ. Âm gian đãi nhân cực khoan, nhân tại dương gian hữu nhất ác niệm, nhược phục hữu nhất thiện niệm, tức tương tiền ác niệm tiêu khứ. Ti thử ấn giả, tiền minh ư trung túc công chưởng chi, chí kim thượng vị quyển khứ”.

Dịch nghĩa: Tiền Ấm Đình ở Tiền Đường nói (với tôi) rằng: (Y) Từng từ Thiên Tân mua thuyền về châu Hàng, cùng thuyền có người họ Dương, là tú tài ở Vô Tích, ngày thì ngồi trong thuyền, im ắng ít nói. Tiền cho hắn đần độn chậm chạp, nên cũng không cùng hắn chuyện trò đàm đạo. Một ngày nọ (người họ Dương) ngẫu nhiên bàn chuyện nhân quả, Tiền thực không tin, người họ Dương nhân đó cực lực nói rằng thực có chuyện đó, lại cho rằng trong một tháng sẽ có vài vị phán quan từ cõi âm vi hành trong đêm, (là chức quan) chuyên chuyện bắt trói mạng người, (trong tay họ) đều có một tờ giấy mỏng có tên người trong đó. Ví như có một mạng người, từ vinh quý hiển hách đến vương hầu khanh tướng, ắt được thêm vào một ấn mực chu sa, giống như lệnh bài của quan phủ trên dương gian vậy. Văn tự trên ấn đó phảng phất (bút pháp) ấn triện dùng cho quan lại, nhưng không rõ đó là chữ nào. Diêm Vương (khi nhận nhiệm vụ) tra vấn thiện ác trong cõi dương gian, trước tiên dùng tấm áo có làn bọc ngoài khoác lên thân người, giống như hình dạng cái miệng chuông trong cõi nhân hoàn vậy. Người mặc chiếc áo này, những chuyện (thiện ác) hư nhược hồ đồ khi sống bất giác tự thốt ra hết thảy. Cõi âm đối với người cực kỳ ung dung, cởi mở, con người trong cõi nhân trần có niệm ác, ví như lại có một niệm thiện, tức niệm ác trước thảy được tiêu trừ. Vị quan chuyên quản việc ấy, trước đời Minh do những bậc cần kiệm liêm chính nắm giữ, đến nay vẫn chưa thấy có sự dời đổi nào cả.

犼 (Hống)

Hống có thần thông, miệng thét ra lửa, có thể đấu chọi với rồng, cho nên đức phật cưỡi nó hầu trấn yểm nó vậy.

Nguyên văn: 常州蔣明府言:佛所騎之獅、象,人所知也;佛所騎之犼,人所不知,犼乃僵屍所變。有某夜行,見屍啟棺而出,某知是僵屍,俟其出,取瓦石填滿其棺,而己登農家樓上觀之。將至四更,屍大踏步歸,手若有所抱持之物。到棺前,不得入,張目怒視,其光睒睒。見樓上有人,遂來尋求。苦腿硬如枯木,不能登梯,怒而去梯。某懼不得下,乃攀樹枝夤緣而墜。僵屍知而逐之。某窘急,幸平生善泅,心揣屍不能入水,遂渡水而立。屍果躑躅良久,作怪聲哀號,三躍三跳,化作獸形而去。地下遺物是一孩子屍,被其咀嚼只存半體,血已全枯。或曰:屍初變旱魃,再變即為犼。犼有神通,口吐煙火,能與龍鬥,故佛騎以鎮壓之。

Phiên âm: Thường Châu Tưởng Minh Phủ ngôn: Phật sở kị chi sư, tượng, nhân sở tri dã; Phật sở kị chi hống, nhân sở bất tri, hống nãi cương thi sở biến. Hữu mỗ dạ hành, kiến thi khải quan nhi xuất, mỗ tri thị cương thi, sĩ kì xuất, thủ ngõa thạch điền mãn kỳ quan, nhi dĩ đăng nông gia lâu thượng quan chi. Tương chí tứ canh, thi đại đạp bộ quy, thủ nhược hữu sở bão trì chi vật. Đáo quan tiền, bất đắc nhập, trương mục nộ thị, kỳ quang thiểm thiểm. Kiến lâu thượng hữu nhân, toại lai tầm cứu. Khổ thối ngạnh như khô mộc, bất năng đăng thê, nộ nhi khứ thê. Mỗ cụ bất đắc hạ, nãi phàn thụ chi di duyên nhi trụy. Cương thi tri nhi trục chi. Mỗ quẫn cấp, hạnh bình sinh thiện tù, tâm sủy thi bất năng nhập thủy, toại độ thủy nhi lập. Thi quả trịch trục lương cửu, tác quái thanh ai hiệu, tam dược tam khiêu, hòa tác thú hình nhi khứ. Địa hạ di vật thị nhất hài tử thi, bị kỳ trớ tước chỉ tồn bán thể, huyết dĩ toàn khô. Hoặc viết: Thi sơ biến hạn bạt, tái biến tức vi hống. Hống hữu thần thông, khẩu thổ yên hỏa, năng dữ long đấu, cố phật kị dĩ trấn yểm chi.

Dịch nghĩa: Tưởng Minh Phủ ở Thường Châu có nói rằng: Sư tử, Đại tượng, những loài mà đức phật thường cưỡi, là những thứ mà người đã biết vậy; còn Hống, giống vật mà đức phật cưỡi, là thứ loài người chưa biết, Hống là loài do cương thi biến thành vậy. Có một người đi đêm, thấy cương thi mở nắp quan tài mà nhảy ra, người ấy biết đó là cương thi, y bèn chờ nó ra ngoài, lấy đá ngói lấp đầy cỗ quan tài, và rồi lên trên chòi rẫy của người làm nông đứng mà quan sát. Gần đến canh tư, cương thi giẫm xéo một khoảnh lớn (lấy đà) bước trở về, trên tay giống như đang ôm lấy một vật nào đó. Đến trước cỗ quan tài, mà vào không được, giương mắt lên trông giận dữ, ánh sáng long lanh sòng sọc. Thấy phía trên chòi các có người đứng, bèn quay đến tìm. Khổ nỗi chân cứng như gỗ mục, không thể leo lên thang được, tức giận mà đập phá thang gác. Người đó sợ đến nỗi không bước xuống được, bèn vin vào cành cây, tựa vào mà nhảy xuống. Cương thi biết được mà đuổi theo y. Người ấy trong lúc quẫn bách, may sao bình sinh giỏi bơi giỏi lặn, trong lòng đinh ninh cương thi không thể xuống nước, mới bèn nhảy xuống ngụp lặn qua sông mà đến bờ kia. Cương thi quả nhiên trù trừ một hồi lâu, thét một thét lớn trông chừng ai oán, nhảy lên ba lần, chợt hóa thành hình dạng con thú mà bỏ đi. Vật bỏ sót ở dưới đất là thây của một đứa trẻ, bị nhấm nhai đến nửa thân người, máu đã khô hoàn toàn. Có người nói rằng: Thi lúc đầu biến thành thần hạn hán, biến một lần nữa tức là Hống. Hống có thần thông, miệng thét ra lửa, có thể đấu chọi với rồng, cho nên đức phật cưỡi nó hầu trấn yểm nó vậy.

僵屍食人血 (Cương thi thực nhân huyết – Cương thi hút máu người)

thấy một xác chết sắc diện như lúc còn sống, lông trắng mọc khắp người, hai tay ôm một cái đầu…

Nguyên văn: 吳江劉秀才某,授徒於元和縣蔣家,清明時,假歸掃墓,事畢,將復進館,謂妻曰:「予來日往某處訪友,然後下船到閶門,汝須早起作炊。」婦如言,雞鳴起身料理。劉鄉居,其屋背山面河,婦淅米於河,擷蔬於圃,事事齊備,天已明而夫不起。入室催促,頻呼不應,揭帳視之,見其夫橫臥牀上,頸上無頭,又無血跡。大駭,呼鄰裡來看。群疑婦有姦殺夫,鳴之官。官至檢驗,命暫收殮,拘婦拷訊,卒無實情,置婦獄中,累月不決。後鄰人上山採樵,見廢塚中有棺暴露,棺木完固,而棺蓋微啟,疑為人竊發。呼眾啟視,見屍面色如生,白毛遍體,兩手抱一人頭。審視,識為劉秀才,乃訴官驗屍。官命取首,首為屍手緊捧,數人之力,挽不能開。官命斧斲僵屍之臂,鮮血淋漓,而劉某之頭反無血矣,蓋盡為僵屍所吸也。官命焚其屍,出婦獄中,案乃結。

Phiên âm: Ngô Giang Lưu tú tài mỗ, thụ đồ ư Nguyên Hòa huyện Tưởng gia, Thanh Minh thời, giả quy tảo mộ, sự tất, tương phục tiến quán, vị thê viết: “Dư lai nhật vãng mỗ xứ phóng hữu, nhiên hậu hạ thuyền đáo Xương Môn, nhữ tu tảo khởi tác xuy”. Phụ như ngôn, kê minh khởi thân liệu lí. Lưu hương cư, kỳ ốc bối sơn diện hà, phụ tích mễ ư hà, hiệt sơ ư phố, sự sự tề bị, thiên dĩ minh nhi phu bất khởi. Nhập thất thôi xúc, tần hô bất ứng, yết trướng thị chi, kiến kỳ phu hoành ngọa sàng mộc, cảnh thượng vô đầu, hựu vô huyết tích. Đại hãi, hô lân lí lai khán. Quần nghi phụ hữu gian sát phu, minh chi quan. Quan chí kiểm nghiệm, mệnh tạm thu liễm, câu phụ khảo tấn, tốt vô thực tình, trí phụ ngục trung, lũy nguyệt bất quyết.

Hậu lân nhân thướng sơn thái tiều, kiến phế trủng trung hữu quan bộc lộ, quan mộc hoàn cố, nhi quan cái vi khải, nghi vi nhân thiết phát. Hô chúng khải thị, kiến thi diện sắc như sinh, bạch mao biến thể, lưỡng thủ bão nhất nhân đầu. Thẩm thị, thức vi Lưu tú tài, nãi tố quan nghiệm thi. Quan mệnh thủ thủ, thủ vi thi thủ khẩn phủng, sổ nhân chi lực, vãn bất năng khai. Quan mệnh phủ trác cương thi chi tí, tiên huyết lâm li, nhi Lưu mỗ chi đầu phản vô huyết hỹ, cái tận vi cương thi sở hấp dã. Quan mệnh phần kỳ thi, xuất phụ ngục trung, án nãi kết.

Dịch nghĩa: Ở Ngô Giang có một vị tú tài họ Lưu, dạy học ở huyện Nguyên Hòa cho nhà họ Tưởng, đời Minh – Thanh, xin nghỉ dạy (vài bữa) về quê tảo mộ, khi công việc hoàn tất, sắp sửa về nhà thì bèn nói với người vợ rằng: “Ta sáng mai phải đến thăm hỏi một người bạn, sau đó xuống thuyền đến Xương Môn, nàng nên dậy sớm nấu cơm (cho ta) nhé!” Người vợ làm đúng như vậy, gà gáy đã thức dậy lo liệu mọi chuyện. Nơi Lưu mỗ ở, đối diện núi đá giáp mặt sông ngòi, người vợ vo gạo ngay bến sông, hái rau trong vườn, việc nào ra việc nấy, (tuy nhiên) trời đã sáng mà chồng thì chưa dậy. (Bà vợ) bèn vào trong phòng thúc giục, hét lớn nhiều lần mà không thấy trả lời, mới vén màn lên mà xem, thấy chồng mình nằm thẳng thóm trên giường, trên cổ không có đầu, lại không còn chút vết máu. Thất kinh, bà vợ liền gào thét gọi xóm giềng tới xem. Người xung quanh nghi ngờ người vợ gian dâm giết chồng, nên báo lên quan án. Quan đến khám nghiệm, ra lệnh tạm ngưng việc liệm xác, bắt người vợ ra đình tra khảo, rốt cuộc không tra được sự thật, bèn bắt người vợ bỏ vào ngục, ngày qua tháng lại vẫn chưa quyết.

Về sau người hàng xóm lên núi đốn củi, thấy bên trong phế huyệt có một cỗ linh sàng lộ ra, cỗ quan tài làm bằng gỗ còn nguyên vẹn, nhưng nắp hòm lại mở ra he hé, nghi ngờ bị trộm quật lên. Bèn hô gọi người dân chung quanh đến mở ra xem, thấy một xác chết sắc diện như lúc còn sống, lông trắng mọc khắp người, hai tay ôm một cái đầu. Nhìn kĩ, mới biết đó là đầu của Lưu tú tài, bèn báo với quan án khám nghiệm tử thi. Quan ra lệnh lấy cái đầu đi, cái đầu bị xác chết ôm giữ cứng khít, mấy người dùng sức nhưng kéo không ra được. Quan ra lệnh dùng búa nạy cánh tay của cương thi, máu tươi tràn ra lênh láng, mà đầu của Lưu mỗ lại không còn lấy một giọt máu, có lẽ bị cương thi hút hết rồi vậy. Quan án ra lệnh đốt thây, đưa người vợ ra khỏi ngục, vụ án chấm dứt.

曹公夢 Tào Công mộng (Giấc mộng của ông Tào)

Nguyên văn: 海陽曹孝廉銓得廣西某縣,親友來賀,公欲引疾不赴,曰:「幼年曾作異夢,幾時入泮,幾時娶婚,幾時生子,中舉選粵西某縣,為穿白甲二將軍所害。細記所歷,一一皆驗,不爽毫髮。今所選缺,又恰符合,地多苗蠻,野性莫測,先幾之兆,可不趨吉而避凶哉! 」於是有言夢不足徵者,有以期年半載相機進退勸者,公不得已就道。及抵某縣,民淳吏樸,公甚安之。數年後,忽有呈開銀廠者,公為轉詳。奉上檄委公採辦,公親詣廠所,視其開挖。及礦,則見白氣二道,宛如長虹,直衝公前。公驚而僕,返館舍,至夜半竟卒,家人方悟白甲之徵。

Phiên âm: Hải Dương Tào Hiếu Liêm thuyên đắc Quảng Tây mỗ huyện, thân hữu lai hạ, công dục dẫn tật bất phó, viết: “Ấu niên tằng tác dị mộng, kỉ thời nhập phán, kỉ thời thú hôn, kỉ thời sinh tử, trung cử quyển Việt Tây mỗ huyện, vi xuyên bạch giáp nhị tướng quân sở hại. Tế kỉ sở lịch, nhất nhất giai nghiệm, bất sảng hào phát. Kim sở quyển khuyết, hựu kháp phù hợp, địa đa miêu man, dã tính mạc trắc, tiên kỷ chi triệu, bất khả xu cát nhi tị hung tai!” Ư thị hữu ngôn mộng bất túc trưng giả, hữu dĩ kì niên bán tái tương cơ tiến thoái khuyến giả, công bất đắc dĩ tựu đạo. Cập để mỗ huyện, dân thuần lại phác, công thậm an chi. Sổ niên hậu, hốt hữu trình khai ngân xưởng giả, công vi chuyển tường. Phụng thượng hịch ủy xông thái biện, công thân nghệ xưởng sở, thị kỳ khai oạt. Cập khoáng, tắc kiến bạch khí nhị đạo, uyển như trường hồng, trực xung công tiền. Công kinh nhi bộc, phản quán xá, chí dạ bán cánh tốt, gia nhân phương ngộ bạch giáp chi trưng.

Dịch nghĩa: Hải Dương có người tên Tào Hiếu Liêm làm quan trưởng của một huyện, được bằng hữu lui tới chúc mừng, Tào công lại muốn vin cớ bệnh tật mà không muốn nhậm chức, nói rằng: “Thuở nhỏ ta từng nằm mơ một giấc mộng kì dị, (trong đó có nói chuyện) lúc nào thì nhập phán, lúc nào thì kết hôn, lúc nào thì sinh con, trong mơ còn có nhắc đến chuyện nhậm chức làm quan ở một huyện phía Tây tỉnh Quảng Đông nữa, sau sẽ bị hai vị tướng quân mặc áo giáp bạc sát hại. Ngẫm kĩ từng giai đoạn, nhất nhất ứng nghiệm, không sai lấy một hào một li. Nay chức quan bị khuyết, lại vừa vặn hợp thì, (thiết tưởng) đất Quảng Tây hãy còn lạc hậu, bẩm tính hoang dã hãy còn khó dạy, điềm báo tiên cơ (hãy còn đó), có thể không vin sự lành mà lánh sự dữ hay sao!” Ngay sau đó có người nói điềm mộng không đủ căn cớ, cũng có người khuyên rằng nên xem xét cơ hội tiến thoái (mà hành động) trong chừng một năm rưỡi, Tào công bất đắc dĩ phải y theo. Tới khi đến được huyện đó, (thấy) dân thuần hậu lại chất phác, nên Tào công vô cùng an tâm. Chừng vài năm, đột nhiên có người đệ đơn về việc phát triển mỏ bạc, Tào công làm nhiệm vụ chuyển giao tỉ mỉ. Cấp trên ủy thác cho ông thực hiện, đích thân Tào công đến thăm dò mỏ xưởng, tận mắt thấy việc khai khoáng đào khoét. Đến khi mỏ quặng, thì thấy hai luồng khí trăng, uyển chuyển như cầu vồng, xông thẳng trước mặt. Tào công kinh hãi mà ngã nhào lóc cóc, quay về tệ xá, đến nửa đêm thì chết, người trong nhà mới ngộ ra cái điểm báo khi trước (về hai vị tướng quân mặc áo giáp bạc).

狼軍師 (Lang quân sư)

…lũ sói nhảy vọt lên, tiến đến chồng củi, từ phía dưới rút ra từng khúc một, các càng cây còn sót lại cứ thế mà rơi rớt lăn lóc…

Nguyên văn: 有錢某者,赴市歸晚,行山麓間。突出狼數十,環而欲噬。迫甚,見道旁有積薪高丈許,急攀躋執掘?爬上避之。狼莫能登,內有數狼馳去。少焉,簇擁一獸來,儼輿卒之舁官人者,坐之當中。眾狼側耳於其口傍,若密語俯聽狀。少頃,各躍起,將薪自下抽取,枝條幾散潰矣。錢大駭,呼救。良久,適有樵夥聞聲,共喊而至,狼驚散去,而舁來之獸獨存,錢乃與各樵者諦視之。類狼非狼,圓睛短頸,長喙怒牙,後足長而軟,不能起立,聲若猿啼。錢曰:“噫!吾與汝素無仇,乃為狼軍師謀主,欲傷我耶!”獸叩頭哀嘶,若悔恨狀。乃共挾至前村酒肆中,烹而食之。

Phiên âm: Hữu tiền mỗ giả, phó thị quy vãn, hành sơn mộc gian. Đột xuất lang sổ thập, hoàn nhi dục phệ. Bách thậm, kiến đạo bàng hữu tích tân cao trượng hứa, cấp phàn tễ chấp quật? Ba thượng tị chi. Lang mạc năng đăng, nội hữu sổ lang trì khứ. Thiểu yên, thốc ủng nhất thú lai, nghiễm dư tốt chi dư quan nhân giả, tọa chi đương trung. Chúng lang trắc nhĩ ư kỳ khẩu bàng, nhược mật ngữ phủ thính trạng. Thiểu khoảnh, các dược khởi, tương tân tự hạ trừu thủ, chi điều kỉ tản hội hỹ. Tiền đại hãi, hô cứu!

Lương cửu, thích hữu tiều khỏa văn thanh, cộng hám nhi chí, lang kinh tản khứ, nhi dư lai chi thú độc tồn, tiền nãi dữ các tiều giả đế thị chi. Loại lang phi lang, viên tình đoản cảnh, trường uế nộ nha, hậu túc trường nhi nhuyễn, bất năng khởi lập, thanh nhược viên đề. Tiền viết: “Y! Ngô dữ như tố vô cừu, nãi vô lang quân sư mưu chủ, dục thương ngã da!” Thú khấu đầu ai tê, nhược hối hận trạng. Nãi cộng hiệp chí tiền thôn tứ trung, phanh nhi thực chi.

Dịch nghĩa: Có một người họ Tiền nọ, đến chợ đến tối mới trở về, đi qua giữa chân núi. Đột nhiên xuất hiện chừng vài chục con sói, bao quanh chừng muốn ăn thịt. Trong lúc nguy cấp, thấy bên đạo lộ có một đống củi cao chừng vài trượng, bèn mau chóng vin cành mà trèo lên cao, giữ lấy đống củi rồi ngoi lên ngóng nghía hầu tránh lũ sói lang. Sói không thể lên được, trong rừng lại có chừng vài chục con khác chạy tới. Ít lâu sau, đã xúm quanh thành một bầy túm tụm khiêng một con thú tới, giống như kiệu phu khênh kiệu rước quan, tọa ngay chính giữa. Lũ sói tai kề miệng xì xầm, giống như đang lắng nghe điều gì đó bí mật. Chốc lát, lũ sói nhảy vọt lên, tiến đến chồng củi, từ phía dưới rút ra từng khúc một, các càng cây còn sót lại cứ thế mà rơi rớt lăn lóc. Người họ Tiền kinh hãi tột độ, bắt đầu hô cứu.

Hồi lâu, đang lúc có vài người gánh củi nghe thấy có tiếng kêu, cùng hô hoán mà kéo đến, lũ sói kinh hãi tản mất, chỉ mỗi con khênh kiệu tới là còn ở đó, người họ Tiền mới bèn cùng với đám tiều phu xem xét kĩ càng (nó). Loài sói mà chẳng phải là sói, mắt tròn cổ ngắn, mồm dài răng quắc, sau lớp chân dài mà lại mềm, không thể đứng dậy, tiếng kêu như tiếng vượn hú. Người họ Tiền mới nói rằng: “Ôi! Ta cùng với các ngươi vốn không thù chẳng oán, cớ sao lại mưu toan dẫn lũ sói đến, muốn hại ta ư?” Con thú đó khấu đầu kêu khóc thảm thiết, tỏ vẻ hối hận. Người họ Tiền bèn cùng với đám tiều phu hợp lại đến hàng rượu trước thôn, phanh thịt nó mà ăn.

Nguyễn Thanh Lộc dịch

Nguồn dịch: http://www.my2852.com/gdwx/xs/bj/xzby/index.htm

DỊCH THUẬT: 大龍湫記 ĐẠI LONG TƯU KÝ (Bài ký thác Đại Long) – Lý Hiếu Quang 李孝光

Lý Hiếu Quang

Lý Hiếu Quang 李孝光 (1285 – 1350), tự là Quý Hòa 季和, hiệu là Ngũ Phong 五峰,người đời sau biết ông nhiều hơn với danh xưng “Lý Ngũ Phong” 李五峰, là một học giả, một thi nhân nổi tiếng vào đời Nguyên. Người Lạc Thanh, Ôn Châu, nay thuộc tỉnh Triết Giang. Thuở nhỏ tinh làu bác học, văn chương nổi danh thiên hạ, ông thường trước văn theo phương pháp của người đời xưa, không chạy theo thời thượng, cùng với Dương Duy Trinh 楊維楨 xưng là “Dương Lý“. Thời hoa niên ông ẩn cư dưới núi Ngũ phong Nhạn Đãng, được kẻ sĩ bốn phương gần xa về thụ học, danh lưu truyền khắp. Đến năm Nguyên Thuận Đế 1347 vào tháng 12, ông được vời đến kinh sư, lúc này đã 63 tuổi, nhậm chức Bí Thư Giám Trước Tác Lang, tuy nhiên nhậm chức không lâu thì triều đình xảy chuyện, Đóa Nhi Chích cùng Thái Bình tranh ngôi đoạt vị. Bất mãn vì thế cục, ông cáo lão từ quan, đến năm 1350 thì bệnh và mất ở Thông Châu.

Bài ký “Đại Long tưu ký” là bài du ký nổi tiếng của Lý Hiếu Quang xét về bút pháp. Bài ký dùng nhiều từ ngữ khúc chiết mang ý nghĩa nội hàm cao, hơn nữa còn truyền đạt tư tưởng thuộc học phái thi phú Điền Viên, đề cao lối sống ẩn dật, tự do, tự tại, thanh nhàn, phó mặc thói đời. Bài ký không chỉ miêu tả một cách tỉ mỉ tường minh những giá trị cảnh vật trong nội tại quốc gia mà hơn hết nó còn cổ xúy cho lối sống hòa mình với tự nhiên, theo tư tưởng Lão Trang, vô vi, nghèo mà thanh đạm.

Đại Long tưu 大龍湫: Còn có tên gọi là Đại Bộc Bố 大瀑布, thác cao 190 mét, hình trạng giống như một con rồng dài ngoằn, là một trong ba cảnh đẹp (tuyệt cảnh) nằm ở phía Tây hang núi Nhạn Đãng 雁蕩, đứng gọn trên núi nắm trọn vùng Đông Nam tỉnh Triết Giang. Núi Nhạn Đãng, thuộc nội huyện Bình Dương, thành phố Lạc Thanh, tỉnh Triết Giang, phân thành ba bộ phận Nam Nhạn, Trung Nhạn, Bắc Nhạn, là danh lam thắng cảnh phía Đông Nam Trung Quốc.

Nước thác vuông vức thênh thang, len vào hang động chưa đến năm dặm hơn, đã nghe thấy tiếng nước uyển chuyển chảy ra khỏi hang, người theo vào tâm khảm (đều) rúng động kinh sợ.

Nguyên văn: 大德七年,秋八月,予嘗從老先生來觀大龍湫。苦雨積日夜,是日,大風起西北,始見日出。湫水方大,入谷未到五里餘,聞大聲轉出谷中,從者心掉。望見西北立石,作人俯勢,又如大楹;行過二百步,乃見更作兩股相倚立;更進百數步,又如樹大屏風。而其顛谽谺,猶蟹兩螯,時一動搖,行者兀兀不可入。轉緣南山趾稍北,回視如樹圭。又折而入東崦,則仰見大水從天上墮地,不掛著四壁,或盤桓久不下,忽迸落如震霆。東岩趾有諾詎那庵,相去五六步,山風橫射,水飛著人。走入庵避,餘沫迸入屋,猶如暴雨至。水下搗大潭,轟然萬人鼓也。人相持語,但見張口,不聞作聲,則相顧大笑。先生曰:“壯哉!吾行天下,未見如此瀑布也。”

是後,予一歲或一至。至,常以九月。十月則皆水縮,不能如向所見。今年冬又大旱,客入到庵外石矼上,漸聞有水聲。乃緣石矼下,出亂石間,始見瀑布垂,勃勃如蒼煙,乍大乍小,鳴漸壯急,水落潭上窪石,石被激射,反紅如丹砂。石間無秋毫土氣,產木宜瘠反碧,滑如翠羽鳧毛。潭中有斑魚二十餘頭,聞轉石聲,洋洋遠去,閒暇回緩,如避世士然。家僮方置大瓶石旁,仰接瀑水,水忽舞向人,又益壯一倍,不可複得瓶,乃解衣脫帽著石上,相持扼掔,爭欲取之,因大呼笑。西南石壁上,黃猿數十,聞聲皆自驚擾,挽崖端偃木牽連下,窺人而啼。縱觀久之,行出瑞鹿院前 – 今為瑞鹿寺。日已入,蒼林積葉,前行,人迷不得路,獨見明月,宛宛如故人。

老先生謂南山公也。

Phiên âm: Đại Đức thất niên (1), thu bát nguyệt, dư thường tòng Lão tiên sinh lai quan Đại Long tưu. Khổ vũ tích nhật dạ, thị nhật, đại phong khởi Tây Bắc, thủy kiến nhật xuất. Tưu thủy phương đại, nhập cốc vị đáo ngũ lí dư, văn đại thanh chuyển xuất cốc trung, tòng giả tâm điệu. Vọng kiến Tây Bắc lập thạch, tác nhân phủ nỗ, hựu như đại doanh; hành quá nhị bách bộ, nãi kiến canh tác lưỡng cổ tương ỷ lập; canh tiến bách sổ bộ, hựu như thụ đại bình phong. Nhi kì điên hàm ha, do giải lưỡng ngao, thời nhất động dao, hành giả ngột ngột bất khả nhập. Chuyển duyên Nam Sơn chỉ sao Bắc, hồi thị như thụ khuê. Hựu chiết nhi nhập Đông yêm, tắc ngưỡng kiến đại thủy tòng thiên thượng đọa địa, bất quải trứ tứ bích, hoặc bàn hoàn cửu bất hạ, hốt bính lạc như chấn đình. Đông nham chỉ hữu Nặc Cự Na am, tương khứ ngũ lục bộ, sơn phong hoành xạ, thủy phi trứ nhân. Tẩu nhập am tị, dư mạt bính nhập ốc, do như bộc vũ chí. Thủy hạ đảo đại đàm, hoanh nhiên cạn nhân cổ dã. Nhân tương trì ngữ, đãn kiến trương khẩu, bất văn tác thanh, tắc tương cố đại tiếu. Tiên sinh viết: “Tráng tai! Ngô hành thiên hạ, vị kiến như thư bộc bố“.

Thị hậu, dư nhất tuế hoặc nhất chí. Chí, thường dĩ cửu nguyệt. Thập nguyệt tắc giai thủy súc, bất năng như hướng sở kiến. Kim niên đông hựu đại hạn, khách nhập đáo am ngoại thạch cang thượng, tiệm văn hữu thủy thanh. Nãi duyên thạch cang hạ, xuất loạn thạch gian, thủy kiến bộc bố thùy, bột bột như thương yên, sạ đại sạ tiểu, minh tiệm trang cấp, thủy lạc đàm thượng oa thạch, thạch bị kích xạ, phản hồng như đan sa. Thạch gian vô thu hào thổ khí, sản mộc nghi tích phản bích, cốt như thúy vũ phù hài. Đàm trung hữu ban ngư nhị thập dư đầu, văn chuyển thạch thanh, dương dương viễn khứ, nhàn hạ hồi hoãn, như tị thế sĩ nhiên. Gia đồng vạn trí đại bình thạch bàng, ngưỡng tiếp bộc thủy, thủy hốt vũ hướng nhân, hựu ích trang nhất bội, bất khả phức đắc bình, nãi giải y thoát mạo trứ thạch thượng, tương trì ách kiên, tranh dục thủ chi, nhân đại hô tiếu. Tây Nam thạch bích thượng, hoàng viên sổ thập, văn thanh giai tự kinh nhiễu, vãn nhai đoan yển mộc khiên liên hạ, khuy nhân nhi đề. Túng quan cửu chi, hành xuất Thụy Lộc viện (2) tiền – Kim vi Thụy Lộc tự. Nhật dĩ nhập, thương lâm tích diệp, tiền hành, nhân mê bất đắc lộ, độc kiến minh nguyệt, uyển uyển như cố nhân.

Lão tiên sinh vị Nam Sơn Công dã.

Dịch nghĩa: Đại Đức năm thứ 7, mùa thu tháng 8, ta đã từng theo lão tiên sinh đi ngắm thác Đại Long. Mưa triền miên tang tóc cứ tích tụ lại, ngày đêm không dứt, ngày hôm đó, gió lớn nổi dậy từ hướng Tây Bắc, chợt thấy vừng dương từ xa mọc lên. Nước thác vuông vức thênh thang, len vào hang động chưa đến năm dặm hơn, đã nghe thấy tiếng nước uyển chuyển chảy ra khỏi hang, người theo vào tâm khảm (đều) rúng động kinh sợ. Vọng xa về phía Tây Bắc mà đứng trên tấm cự thạch, hình hài nên thế dáng người luồn kẻ cúi, lại trông như cột lớn sừng sững; đi chừng hơn hai trăm bước nữa, bèn thấy đỉnh núi ủy uyển biến hóa tựa hồ đôi chiếc bắp vế dựa vào nhau mà đứng; lại tiến thêm chừng trăm bước, thì trông như tầng cây cao kiên cố đứng chắn gió lớn. (Mà) Đỉnh núi (toạc ra) lộ vẻ sâu thẳm hoang sơ, giống như hai cái càng cua (cứng cáp), thỉnh thoảng lại dao động khe khẽ, khách bộ hành chật vật lắm cũng không thể bước vào. Di chuyển men theo chân núi phía Nam hơi chếch về phía Bắc, quay lại đoái nhìn tựa như ngọc khuê (trên nhọn dưới vuông). Lại đổi hướng mà đến dốc núi phía Đông, tắp liền ngẩng đầu thấy dòng nước lớn ào ào chảy từ trên trời tuột xuống mặt đất, (nhưng) không thấm móc vào bốn bên vách đá, có lúc thác nước lưu luyến hồi lâu không muốn rơi xuống, rồi bất chợt tung tóe như sấm vang chớp giật. Phía Đông chân hang lại có miếu thờ Nặc Cự Am (tôn giả), cùng đi chừng năm sáu bước nữa, (lại thấy) gió núi lồng lộng, nước bắn lên người. Bước vào trong am thờ mà lánh ướt, bọt nước còn vương (hung hăng) tóe thẳng vào gian thờ, cứ như từng cơn mưa dữ dội ào ạt ập đến. Nước trôi xuống xóc thẳng vào miền đầm lầy rộng lớn, ầm ầm như muôn người vỗ trống khua chiêng. Khách du lãng (cứ thế mà) cùng nhau trò chuyện huyên thuyên, nhưng rồi khi thấy cửa hang mở toang rộng toác, tiếng người bặt im, (và rồi) ngoảnh lại nhìn nhau mà vui cười khoái chí. Lão tiên sinh nói rằng: “Tráng lệ thay! (Hùng vĩ thay!) Ta đi khắp thiên hạ, chưa thấy thác nước nào như thế!”

Nước trôi xuống xóc thẳng vào miền đầm lầy rộng lớn, ầm ầm như muôn người vỗ trống khua chiêng.

Sau này, ta cứ một năm lại đến một lần. Lúc đến, thường là vào tháng 9. Đến tháng 10 thì nước thác giảm đi hẳn, không thể thấy được những cảnh tượng như trước. Mùa đông năm nay lại rơi vào thời đại hạn, ta lại đến, bước lên trên cây cầu đá ngoài am thờ Nặc Cự Na, dần dần nghe thấy có tiếng nước sột soạt chảy. (Ta) Bèn men dưới chân cầu đá, ra khỏi đám cự thạch nhốn nháo lộn xộn, ban đầu, ta thấy thác nước buông xòa rủ xuống, ùn ùn như khói lam bốc lên, chợt mạnh chợt yếu, và rồi càng gần tiếng nước lại càng gấp gáp, ào ạt mạnh bạo, nước rơi xuống đầm sâu vào lỗ trũng của mặt đá, bề mặt đá động bị (nước thác) tuột mạnh tung vọt lên cao, phản lại tạo thành màu đỏ ví như màu chu sa (dùng để ấn triện). Giữa những tảng đá tuyệt không có chút mảy may vết bùn nhơ, cây con đáng ra phải xuất dáng gầy còm, cằn cỗi lại phản chiếu thứ ánh lơ như màu ngọc bích, bóng láng tựa hồ lông chim thúy, vịt trời. Trong đầm còn có hơn hai mươi con cá hoa đốm, lắng tiếng nước chảy va vào đá uyển chuyển, khoan thai ngoe nguẩy từ xa vọng đến, an nhàn thư thả, ví như những kẻ lánh đời ẩn cư. Gia đồng đứng bên bục đá tay phóng đặt chiếc bình lớn, hứng lấy nước thác, nước chợt tóe vào người, lại càng lúc càng mạnh thêm, không thể lấy lại bình đựng, (chúng) mới bèn lột y trang cởi mũ mão bỏ trên tảng đá, (ta) cùng (chúng) nắm chặt tay nhau cứng khít, tranh giựt nhau hòng lấy (chiếc bình) về, vì thế mà cười một trận vỡ đê. Trên bức vách đá nằm hướng Tây Nam, có chừng vài chục con khỉ vàng, nghe thấy tiếng cười đùa huyên náo thảy đều kinh hãi hoang mang, trèo lên vách núi nắm nhành cây (mọc) ngang cứ lần lượt nối nhau mà xuống, (có) người lén ngó (xuống) (sợ hãi) mà kêu thét. Rảo mắt nhìn quanh một hồi lâu, mới đi ra đến trước cửa viện Thụy Lộc – Nay là chùa Thụy Lộc. Trời đã vào tối, rừng xanh cây biếc lá rơi đống đống, đi về phía trước, người quên lối về, chỉ thấy ánh trăng, phảng phất như bóng như hình cố nhân.

Trong đầm còn có hơn hai mươi con cá hoa đốm, lắng tiếng nước chảy va vào đá uyển chuyển, khoan thai ngoe nguẩy từ xa vọng đến, an nhàn thư thả, ví như những kẻ lánh đời ẩn cư.

Lão tiên sinh tên gọi là Nam Sơn Công vậy. (3)

(Chú thích)

(1) Đại Đức năm thứ bảy 大德七年: Đại Đức là niên hiệu của Nguyên Thành Tông Thiết Mặc Nhĩ 元成宗鐵穆耳 năm 1303.

(2) Thụy Lộc viện 瑞鹿院: Một trong những ngôi chùa thuộc núi Nhạn Đãng.

(3) Vị: Gọi là. Nam Sơn Công 南山公: Chỉ Lão tiên sinh, “Nam Sơn” là tên hiệu của ông, “Công” là tiếng tôn xưng. Trong trường hợp này vẫn chưa rõ danh tính, có lẽ là bậc trưởng bối mà Lý Hiếu Quang rất tôn kính, cho nên mới tôn xưng là “Lão tiên sinh”, có thể là chỉ người cha của y.

Nguyễn Thanh Lộc dịch

(Nguồn dịch)

https://baike.baidu.com/item/%E5%A4%A7%E9%BE%99%E6%B9%AB%E8%AE%B0

DỊCH THUẬT: 戊午上高宗封事 – 胡銓 (MẬU NGỌ THƯỚNG CAO TÔNG PHONG SỰ (1) (Bản mật tấu trình với Tống Cao Tông năm Mậu Ngọ) – Hồ Thuyên)

Hồ Thuyên 胡銓

Hồ Thuyên 胡銓 (1102 – 1180), tự là Bang Hoành 邦衡, hiệu là Đam Am 澹庵, người Cát Châu, thành Lư Lăng Hương (Nay thuộc tỉnh Giang Tây, thành phố Cát An, trấn Trị Hạ, khu Thanh Nguyên). Một danh thần thời Nam Tống, một nhà văn lẫy lừng, cũng là một trong “Ngũ trung nhất tiết” 五忠一節 ở Lư Lăng, cùng với Lý Cương, Triệu Đỉnh, Lý Quang cùng xưng là “Nam Tống tứ danh thần” 南宋四名臣. Kiến Viêm năm thứ 2, Hồ Thuyên được thăng đến Tiến sĩ. Ban đầu trao ngôi phán quan quân sự ở Phủ châu, chiêu mộ Hương ĐInh, trợ giúp binh sĩ chống trả lại nước Kim. Sau bị tước mất chức Xu mật viện biên tu quan. Năm Thiệu Hưng thứ 8, Tần Cối chủ trương nghị hòa với nước Kim, Hồ Thuyên phản kháng kịch liệt, nhân đó ông mới làm bài “Mậu Ngọ thướng Cao Tông phong sự” để tỏ rõ nỗi lòng của mình, dâng sớ xin chém ba tên Tần Cối, Vương Luân, Tôn Cận, Tần Cối hận thù, bèn hạch tội Hồ Thuyên xúi giục trăm họ làm phản, đày ra Chiêu châu. Thuần Hi năm thứ 7, Hồ Thuyên qua đời, được phong tặng Thông Nghị Đại Phu, ban húy “Trung Giản” 忠簡, có trước tác “Đam Am tập” 《澹庵集》, lưu truyền muôn đời.

Tác phẩm cho thấy thái độ quyết liệt, liều chết của tác giả với tấm lòng yêu nước thiết tha và với mong muốn can gián bề trên. Lời lẽ sắc bén, luận điểm rõ ràng, ở đây, ta thấy được một tâm hồn cao thượng, lớn lao, biết lo cho dân, biết nghĩ đến vận mệnh quốc gia dân tộc, đọc tác phẩm, người đọc hiểu rõ hơn về lịch sử và tính chất lý luận của bài sớ, cùng với đó là thấu cảm tâm hồn cứng rắn, dám nói của tác giả trước tình hình nguy biến của đất nước, của nhân dân.

Nguyên văn: 紹興八年十一月日,右通直郎樞密院編修臣胡銓,謹齋沐裁書,昧死百拜,獻於皇帝陛下。

臣謹按:王倫本一狎邪小人,市井無賴,頃緣宰相無識,遂舉以使虜。專務詐誕,斯罔天聽,驟得美官,天下之人切齒唾罵。今者無故誘致虜使,以詔諭江南為名,是欲臣妾我也,是欲劉豫我也!劉豫臣事醜虜,南面稱王,自以為子孫帝王萬世不拔之業,一旦豺狼改慮,捽而縛之,父子為虜。商鑑不遠,而倫又欲陛下效之。夫天下者,祖宗之天下也,陛下所居之位,祖宗之位也。奈何以祖宗之天下為金虜之天下,以祖宗之位為金虜藩臣之位!陛下一屈膝,則祖宗廟社之靈盡污夷狄,祖宗數百年之赤子盡為左衽,朝廷宰執盡為陪臣,天下之士大夫皆當裂冠毀冕,變為胡服,異時豺狼無厭之求,安知不加我以無禮如劉豫也哉!夫三尺童子,至無識也,指犬豕而使之拜,則怫然怒;今醜虜則犬豕也,堂堂大國,相率而拜犬豕,曾童孺之所羞,而陛下忍為之邪?
倫之議乃曰:“我一屈膝,則梓宮可還,太后可複,淵聖可歸,中原可得。”嗚呼!自變故以來,主和議者,誰不以此說啖陛下哉?然而卒無一驗,則虜之情偽已可知矣。而陛下尚不覺悟,竭民膏血而不恤,忘國大仇而不報,含垢忍恥,舉天下而臣之甘心焉。就令虜決可和,盡如倫議,天下後世謂陛下何如主?況醜虜變詐百出,而倫又以奸邪濟之,則梓宮決不可還,太后決不可複,淵聖決不可歸,中原決不可得。而此膝一屈,不可複伸,國勢陵夷,不可複振,可為痛哭流涕長太息矣。

向者陛下間關海道,危如累卵,當時尚不忍北面臣敵,況今國勢稍張,諸將盡銳,士卒思奮。只如頃者敵勢陸梁,偽豫入寇,固嘗敗之於襄陽,敗之於淮上,敗之於渦口,敗之於淮陰,較之往時蹈海之危,固已萬萬。儻不得已而至於用兵,則我豈遽出虜人下哉?今無故而反臣之,欲屈萬乘之尊,下穹廬之拜,三軍之士不戰而氣已索,此魯仲連所以義不帝秦,非惜夫帝秦之虛名,惜夫天下大勢有所不可也。今內而百官,外而軍民,萬口一談,皆欲食倫之肉。謗議洶洶,陛下不聞,正恐一旦變作,禍且不測。臣竊謂不斬王倫,國之存亡未可知也。

雖然,倫不足道也,秦檜以心腹大臣而亦為之。陛下有堯、舜之資,檜不能致陛下如唐、虞,而欲導陛下為石晉。近者禮部侍郎曾開等引古誼以折之,檜乃厲聲責曰:“侍郎知故事,我獨不知!”則檜之遂非愎諫,已自可見。而乃建白,令臺諫侍臣僉議可否,是蓋畏天下議己,而令臺諫侍臣共分謗耳。有識之士,皆以為朝廷無人,籲,可惜哉!孔子曰:“微管仲,吾其被發左衽矣。”夫管仲,霸者之佐耳,尚能變左衽之區而為衣裳之會。秦檜,大國之相也,反驅衣冠之俗而為左衽之鄉。則檜也不唯陛下之罪人,實管仲之罪人矣。孫近傅會檜議,遂得參知政事。天下望治有如飢渴,而近伴食中書,漫不敢可否事。檜曰敵可議和,近亦曰可和;檜曰天子當拜,近亦曰當拜。臣嘗至政事堂,三發問而近不答,但曰“已令臺諫侍從議矣”。嗚呼!參贊大政徒取容充位如此,有如虜騎長驅,尚能折衝禦侮耶?臣竊謂秦檜、孫近亦可斬也。

臣備員樞屬,義不與檜等共戴天。區區之心,願斷三人頭,竿之藁街。然後羈留虜使,責以無禮,徐興問罪之師,則三軍之士不戰而氣自倍。不然,臣有赴東海而死爾,寧能處小朝廷求活邪!小臣狂妄,冒瀆天威,甘俟斧鉞,不勝隕越之至!

Hoàng đế Tống Cao Tông

Phiên âm: Thiệu Hưng (2) bát niên thập nhất nguyệt nhật, Hữu Thông Trực Lang Xu Mật Viện Biên Tu (3) thần Hồ Thuyên, cẩn trai mộc tài thư, muội tử bách bái, hiến ư hoàng đế bệ hạ.

Thần cẩn án: Vương Luân bổn (4) nhất hiệp tà tiểu nhân, thị tỉnh vô lại, khoảnh duyên tể tướng (5) vô thức, toại cử dĩ sử lỗ. Chuyên vụ trá đản, tư võng thiên thính, sậu đắc mỹ quan, thiên hạ chi nhân thiết xỉ thóa mạ. Kim giả vô cố dụ trí lỗ sứ, dĩ Chiêu Dụ Giang Nam vi danh (6), thị dục thần thiếp ngã dã, thị dục Lưu Dự (7) ngã dã! Lưu Dự thần sự xú lỗ, Nam diện xưng vương, tự dĩ vi tôn tử đế vương vạn thế bất bạt chi nghiệp, nhất đán sài lang cải lự, tốt nhi phược chi, phụ tử vi lỗ. Thương giám bất viễn (8), nhi Luận hựu dục bệ hạ hiệu chi. Phù thiên hạ giả, tổ tông chi thiên hạ dã, bệ hạ sở cư chi vị, tổ tông chi vị dã. Nại hà dĩ tổ tông chi thiên hạ vi Kim lỗ chi thiên hạ, dĩ tổ tông chi vị vi Kim lỗ phiên thần chi vị! Bệ hạ nhất khuất tất, tắc tổ tông miếu xã chi linh tận ô di địch, tổ tông sổ bách niên chi xích tử tận vi tả nhẫm, triều đình tể chấp tận vi bồi thần, thiên hạ chi sĩ đại phu giai đương liệt quan hủy miện, biến vi hồ phục, dị thời sài lang vô yếm chi cầu, an tri bất gia ngã dĩ vô lễ như Lưu Dự dã tai! Phù tam xích đồng tử, chí vô thức dã, chỉ khuyển thỉ nhi sử chi bái, tắc phật nhiên nộ; kim xú lỗ tắc khuyển thỉ dã, đường đường đại quốc, tương suất nhi bái khuyển thỉ, tằng đồng nhụ chi sở tu, nhi bệ hạ nhẫn vi chi da?

Luân chi nghị nãi viết: “Ngã nhất khuất tất, tắc tử cung khả hoàn, thái hậu khả phức, Uyên Thánh khả quy, Trung Nguyên khả đắc” (9). Ô hô! Tự biến cố dĩ lai, chủ hòa nghị giả, thùy bất dĩ thử thuyết đạm bệ hạ tai? Nhiên nhi tốt nhi nghiệm, tắc lỗ chi tình ngụy dĩ khả tri hỹ. Nhi bệ hạ thượng bất giác ngộ, kiệt dân cao huyết nhi bất tuất, vong quốc đại cừu nhi bất báo, hàm cấu nhẫn xỉ, cử thiên hạ nhi thần chi cam tâm yên. Tựu lệnh lỗ quyết khả hòa, tận như Luân nghị, thiên hạ hậu thế vị bệ hạ hà như chủ? Huống xú lỗ biến trá bách xuất, nhi Luân hựu dĩ gian tà tế chi, tắc tử cung quyết bất khả hoàn, thái hậu quyết bất khả phức, uyên thánh quyết bất khả quỷ, Trung Nguyên quyết bất khả đắc. Nhi thử tất nhất khuất, bất khắc phức thân, quốc thế lăng di, bất khả phức chấn, khả vi thống khốc lưu thế trường thái tức hỹ.

Hướng giả bệ hạ gián quan hải đạo, nguy như lũy noãn, đương thời thượng bất nhẫn Bắc diện thần địch, huống kim quốc thế sảo trương, chư tướng tận duệ, sĩ tốt tư phấn. Chỉ như khoảnh giả địch thế lăng lương, ngụy dự nhập khấu, cố thường bại chi ư Tương Dương (10), bại chi ư Hoài thượng (11), bại chi ư Qua khẩu (12), bại chi ư Hoài Âm (13), giác chi vãng thời đạo hải chi nguy, cố dĩ vạn vạn. Thảng bất đắc dĩ nhi chí ư dụng binh, tắc ngã khởi cự xuất lỗ nhân hạ tai? Kim vô cố nhi phản thần chi, dục khuất vạn thặng chi tôn, bất khung lư chi bái, tam quân chi sĩ bất chiến nhi khí dĩ tác, thử Lỗ Trọng Liên (14) sở dĩ nghĩa bất đế Tần, phi tích phù đế Tần chi danh hư, tích phù thiên hạ đại thế hữu sở bất khả dã. Kim nội nhi bách quan, ngoại nhi quân dân, vạn khẩu nhất đàm, giai dục thực Luân chi nhục. Báng nghị hung hung, bệ hạ bất văn, chính khủng nhất đán biến tác, họa thả vất trắc. Thần thiết vị bất trảm Vương Luân, quốc chi tồn vong vị khả tri dã.

Tuy nhiên, Luân bất túc đạo dã, Tần Cối dĩ tâm phúc đại thần nhi diệc vi chi. Bệ hạ hữu Nghiêu, Thuấn chi tư, Cối bất năng trí bệ hạ như Đường, Ngu, nhi dục đạo bệ hạ vi Thạch Tấn (15). Cận giả Lễ Bộ Thị Lang Tăng Khai (16) đẳng dẫn cổ nghị dĩ chiết chi, Cối nãi lệ thanh trách nhật: “Thị Lang tri cố sự, ngã độc bất tri!” Tắc Cối chi toại phi phức gián, dĩ tự khả kiến. Nhi nãi kiến bạch, lệnh Đài Gián Thị Thần thiêm nghị khả phủ, thị cái úy thiên hạ nghị kỉ, nhi lệnh Đài Gián Thị Thần cộng phân báng nhĩ. Hữu thức chi sĩ, giai dĩ vi triều đình vô nhân, dụ, khả tích tai! Khổng Tử viết: “Vi Quản Trọng, ngô kỳ bị phát tả nhẫm hỹ” (17). Phù Quản Trọng, bá giả (18) chi tá nhĩ, thượng năng biến tả nhẫm chi khu nhi y thường chi hội. Tần Cối, đại quốc chi tướng dã, phản khu y quán chi tục nhi nhi vi tả nhẫm chi hương. Tắc Cối dã bất duy bệ hạ chi tội, thực Quản Trọng chi tội nhân hỹ. Tôn Cận (19) phụ hội Cối nghị, toại đắc Tham Tri Chính Sự. Thiên hạ vọng trị hữu như cơ khát, nhi Cận bạn thực trung thư (20), man bất cảm khả phủ sự. Cối viết địch khả nghị hòa, cận tích viết khả tri; Cối viết thiên tử đáng bái, Cận diệc nhật đáng bái. Thần thường chí chính sự đường, tam phát vấn nhi cận bất đáp, đãn viết “dĩ lệnh Đài Gián thị tòng nghị hỹ“. Ô hô! Tham tán đại chính đồ thủ dung sung vị như thử, hữu như lỗ kị trường khu, thượng năng chiết xung ngự vũ da? Thần thiết vị Tần Cối, Tôn Cận diệc khả trảm dã.

Tần Cối 秦檜

Thần bị viên Xu thuộc, nghĩa bất dữ Cối đẳng cộng đới thiên. Khu khu chi tâm, nguyện đoạn tam nhân đầu, can chi Cảo Nhai. Nhiên hậu ki lưu lỗ sứ, trách dĩ vô lễ, từ hưng vấn tội chi sư, tắc tam quân chi sĩ bất chiến nhi khí tự bội. Bất nhiên, thần hữu phó Đông hải nhi tử (21) nhĩ, ninh năng xứ tiểu triều đình cầu hoạt da! Tiểu thần cuồng vọng, mạo độc thiên uy, cam sĩ phủ việt, bất thắng vẫn việt chi chí!

Dịch nghĩa: Thiệu Hưng năm thứ 8 tháng 11 vào một ngày, Hữu Thông Trực Lang làm ở Xu Mật Viện nhậm chức quan Biên Tu, thần là Hồ Thuyên, cẩn thận trai giới tắm gội biên thư, liều chết, trăm lạy hiến dâng lên hoàng đế bệ hạ.

Thần cẩn trọng xem xét: Vương Luân vốn là một kẻ tiểu nhân gian tà khinh mạn, trong ruộng ngoài chợ, quen nhờn thói giảo trá vô luân, vừa mới đây, nhân cơ hội tể tướng (đương triều) chẳng có (thức nhãn) hiểu biết, (hắn) bèn cử ông ta đi sứ sang nước giặc (nước Kim). (Hắn) chuyên trò gian ô, xằng càn, manh tâm lừa dối thiên tử, bất ngờ vớ được phẩm cao chức trọng, bị tất thảy người trong thiên hạ mỉa mai thóa mạ. Ngày nay lại vô duyên vô cớ dẫn dụ sứ thần nước giặc, mang cái danh “Chiêu Dụ Giang Nam” (ra mà đàm phán), lại muốn bắt ép nước ta chịu phận tôi tớ, lại muốn biến nước ta thành phường Lưu Dự. Hạng nô bộc (như) Lưu Dự phụng sự cho giặc dữ, xương vương nơi phía Nam, tự cho mình là con cháu đế vương, muôn đời sự nghiệp kiên cố. Đến một ngày nọ, lũ hùm beo (bọn nước Kim) bất ngờ thay tâm đổi ý, mang hắn ra tróc nã rồi bắt trói, cha con (bỗng chốc) trở thành tù binh. Tấm bảo kính của nhà Ân (nhà Thương) còn đó trơ trơ (chẳng hề xa), thế mà Vương Luân lại muốn bệ hạ dẫm vào cái vết xe đổ ấy. Ôi thiên hạ, là thiên hạ của người xưa, ngôi cửu trùng mà bệ hạ đương giữ, là ngôi cửu trùng của người xưa vậy. Cớ sao (bệ hạ) lại cho thiên hạ của người xưa là thiên hạ của bọn giặc Kim, cho ngôi cửu trùng của người xưa là ngôi cửu trùng của phiên thần nước Kim. Bệ hạ hễ đầu hàng (khom lưng uốn gối), (thì ắt) quỷ thần (trú trì) xã tắc tông miếu tất thảy bị điếm nhục, ô miệt (bôi nhọ), dân đen (những người được hưởng sự dưỡng dục) của tổ tiên vài trăm năm đây rồi sẽ phải mặc áo trái vạt, quần thần chấp chính trong triều tất thảy trở thành lũ bồi thần (bầy tôi của kẻ bầy tôi), sĩ-đại-phu trong thiên hạ thảy đều bị xé mão quan, phá cổn miện, thay bằng hồ phục (triều phục của nhà Kim), (rồi) đến khi cái tham cầu của bọn sài lang ấy chẳng thể kìm chế được nữa, làm sao biết đặng chúng sẽ không dự liệt nước ta vào phường vô lễ như Lưu Dự đây! Ôi đám tiểu nhi, thực bọn ngu muội, chỉ đám chó lợn, bảo chúng bái lạy, chúng còn uất tức, nay đám giặc dữ, là đám chó má, là lũ lợn lòi, đường đường là một nước lớn, lại nối nhau từng lượt mà vái lạy đám chó lợn, đến trẻ con còn biết xấu hổ, (chẳng nhẽ) bệ hạ lại nhẫn tâm làm thế sao?

Vương Luân có thương lượng rằng: “Triều Tống ta nếu đầu hàng (quân Kim), thì cỗ tử cung (áo quan của nhà vua) có thể được trở về, thái hậu có thể lại được hồi cung, Uyên Thánh (chỉ Tống Khâm Tông Triệu Hoàn) có thể được quy triều, Trung Nguyên có thể có lại được“. Than ôi! Từ hồi có biến cố đến nay, đức vua chủ trương hòa nghị, (vậy đã) có ai không mang chuyện ấy ra mà cám dỗ bệ hạ chưa? Tuy sĩ tốt không có lấy nỗi một và kinh nghiệm, song tình thế quân giặc dẫu có giả trá thế nào vẫn có thể biết được. Ấy vậy mà bệ hạ vẫn chưa hề giác ngộ, (đã) vắt kiệt máu huyết của chúng dân lại còn không chẩn cấp cho kẻ nghèo túng, cái thù mất nước (trơ trơ như thế) ấy vậy mà không báo trả, ngậm tủi chịu nhục, gánh vác non sông mà cam lòng làm bề tôi cho quân giặc. Dù rằng có thể lệnh giặc quyết chí cầu hòa (và) tất thảy đều y như lời thương lượng của Vương Luân, (nhưng rồi) người đời sau (trong thiên hạ) sẽ gọi bệ hạ (là vị quân chủ) như thế nào? Huống chi giặc dữ là lũ giảo trá, đa đoan, thế mà thằng Vương Luân lại mang nỗi gian tà xảo quyết lọ tế trợ triều Kim, thì (tất) cỗ tử cung ắt không được trở về, thái hậu ắt không được hồi cung, uyên thánh ắt không được về triều, Trung Nguyên ắt không thể lấy lại được. Như vậy (dẫu) khom lưng uốn gối, (cũng) không thể duỗi thân thẳng thóm được nữa (rửa hận), thế nước (chẳng những) suy vi, (mà còn) chẳng thể phục hưng được nữa, có thể khiến cho người ta phải thống khổ than khóc, than vắn thở dài.
Trước đây từng bệ hạ đã từng qua vùng nan lộ, đến miền hải khẩu, nguy như trứng xếp chồng, đương khi ấy vẫn chưa sẵn lòng (chịu) đối địch nơi phía Bắc, huống chi giặc Kim, thế đà dần mạnh, chư tướng tinh nhuệ, sĩ tốt khí hăng. Chỉ (cần) so với khi trước (lúc vừa mới thanh uy), thế giặc đã ngạo mạn, ương ngạnh, chính quyền (tiếm đoạt) của Lưu Dự (cũng) đà nhập hội với phường địch khấu, vốn từng bại trận, tại vùng Tương Dương, ở trên sông Hoài, ngay miền Qua khẩu, đã từng thất thủ, tại miền chiến địa thành cổ Hoài Âm, giữa lúc giao thời, nguy khốn (bao vây) trên miền hồ hải, đã có vạn vạn trận thắng lẫy lừng. Thảng hoặc bất đắc dĩ mà phải động binh, ta há lại bị đám giặc giã hạ bệ (yếu hơn quân giặc) hay sao? Nay không duyên chẳng cớ mà trở về thần phục người Kim, hầu muốn khuất phục sự tôn nghiêm của hoàng thượng, khom lưng trước triều giặc Kim mà vái lạy, sĩ tốt ba quân tuy chưa chiến đấu mà chí khí đã kiệt tận, đến Lỗ Trọng Liên còn biết lấy cái nghĩa mà không tôn đế triều Tần, không tiếc rẻ vì cái hư danh (của việc tôn nhà Tần làm đế) kia, chỉ tiếc vì thanh thế của quốc gia không thể có được nữa. Ngày nay trong triều hãy còn bách quan, ngoài triều hãy còn quân dân, tuy dị khẩu (khác nhau) nhưng đồng thanh (cùng chung tiếng nói), đều (cùng) muốn ăn thịt Vương Luân. (Trong ngoài) Lời dị nghị phỉ báng ào ào nhao nhao, (thế mà) bệ hạ chẳng thèm nghe, (thần) chỉ sợ một ngày biến cố phát sinh, họa khốn chẳng lường được. Thần trộm nghĩ, (nếu) không trảm thủ Vương Luân, (thì) sự tồn vong của đất nước khó bề định liệu được vậy.

Tuy nhiên, Luân không đáng để bàn đến (ở đây), (nhớ xưa) Tần Cối (cũng đã) mang tâm phúc của một vị đại thần ra mà làm việc ấy rồi vậy. Hoàng thượng có trong mình tư chất của vua Nghiêu, của vua Thuấn, Cối (suy cho cùng) chẳng thể khiến bệ hạ được như Nghiêu, Thuấn mà muốn dẫn dắt bệ hạ làm quân Thạch Tấn. Bọn quan Lễ bộ thị lang Tăng Khai lúc ấy đã dẫn đạo dắt lý của người xưa ra mà đạp đổ, Cối bèn thị uy thanh thế, trách rằng: “Thị lang biết chuyện cũ, chỉ có ta là không biết thôi“. Có nghĩa, Tần Cối ương ngạnh cố chấp, đeo đuổi sai lầm, tự cho mình có thể minh tỏ vạn sự. Thế nhưng khi đưa ra tư kiến, lại lệnh cho Đài – gián (Đài ngự sử và quan Gián nghị (làm chuyện can gian)) – thị – thần (quan lại trong triều) tất thảy có thể cầu hòa được không, (tức) đại để y cũng sợ những lời bàn tán xôn xao của thiên hạ về mình, thế rồi mệnh cho Đài – gián – thị – thần cùng lóng tai mà nghe dư luận chỉ trích (chia tội sẻ lỗi). Có kẻ sĩ học thức, đều cho rằng triều đình không có nhân tài, than ôi, đáng tiếc thay! Khổng Tử nói rằng: “Vi quản trọng, ngô kì bị phát tả nhẫm hỹ” (Nếu không có ông Quản Trọng, ta tất bị búi tóc mặc áo trái vạt vậy (như người Di, người Địch). Ôi Quản Trọng, (cũng chỉ là) người phó tá cho bậc bá chủ (Tề Hoàn Công) mà thôi, mà còn có thể biến vùng đất của bọn tả nhẫm (của Di, Địch) trở thành liên minh các nước chư hầu. Tần Cối, là tể tướng của một nước lớn, thế mà lại phản trắc với văn minh người xưa (triều phục nhà Hán) và biến cải (đất đai người xưa) thành quê hương của lũ man di, lũ mọi rợ. Cũng có nghĩa Tần Cối không chỉ là tội nhân của bệ hạ mà còn là tội đồ của Quản Trọng nữa vậy. Tôn Cận (vì) đón đặng ý hướng nghị hòa từ Tần Cối, nên (bèn) có được chức Tham tri chính sự. Người trong thiên hạ trông mong cơn thái bình, sự thịnh trị như đói, như khát, Cận thân làm tể tướng mà rảnh rỗi vô sự (trong thư phòng ngồi tiếp ăn uống), hoàn toàn không dám (nói câu) tán thành hay phản đối. Cối thì cho rằng giặc giã, (ta) có thể cầu hòa, Cận cũng như thế; Cối cho rằng bậc thiên tử nên khom lưng uốn gối, Cận cũng như thế. Thần đã từng đến gian chính sự, ba lần hỏi thăm song Cận không đáp lần nào cả, mà chỉ nói rằng “đã lệnh cho Đài – gián – thị – thần theo lối cầu hòa rồi vậy“. Than ôi! Những người tham dự vào đại cuộc quốc gia không mang danh vị, giản dị như thế, nếu như quân giặc có đuổi chạy dài, vẫn còn có thể chống lại quân giặc mà giành được thắng lợi, có thể ngăn che được cơn lấn áp được hay không? Thần trộm nghĩ Tần Cối (đáng trảm), thì Tôn Cận cũng đáng bị trảm như thế.

Thần được nhậm chức Xu Mật Viện Biên Tu, thề không đội trời chung với bọn Tần Cối. Tấm lòng nhỏ bé của hạ thần, mong được chặt đầu ba tên vô lại, treo ở Cảo Nhai. Sau này có dàm trói được sứ giặc, khiển trách (vì) sự vô lễ, hoãn việc xuất binh, hỏi người có tội, ắt ba quân tướng sĩ chưa xông trận mà chí khí đã hăng lên gấp bội. Nếu không, thần chỉ có nước chạy tới bể Đông mà trầm mình chết quách đi thôi, sao có thể ở trong một triều đình bị lệ thuộc mà cầu mong được sống cho đặng! Tiểu thần cuồng vọng, ngu tối, phiền nhiễu thiên uy, cam đợi hình phạt, (đến mức) sợ hãi khôn xiết.

(Chú thích)

(1) Phong sự 封事: Là bản tấu chương được phong kín, bí mật. Quần thần thời xưa khi dâng bản tấu sớ, nếu như sự việc cơ mật, phòng khi tiết lộ, sẽ lấy một cái túi vải có màu đen bọc thư lại. Còn một nghĩa khác chỉ việc tế tự trong triều đình, còn có chữ khác là Phong thiện 封禪, Phong 封 là tế trời, Thiện 禪 là tế đất, ngày xưa thiên tử đi tuần thú, phong núi Thái Sơn mà tế trời, quét núi nhỏ mà tế núi sông.

(2) Thiệu Hưng 紹興: Niên hiệu của hoàng đế Nam Tống Triệu Cấu, từ năm 1131 đến năm 1162.

(3) Hữu Thông Trực Lang 右通直郎: Là chức quan, phẩm thứ sáu. Xu mật viện: Tên quan thự (Nhà ở của người làm việc triều đình). Xu mật viện đời Tống chủ yếu quản lí việc quân cơ mật và các việc liên quan tới biên phòng, cùng với Trung thư tỉnh gọi là “Nhị phủ” 二府, đều là cơ quan quốc vụ cấp cao nhất ở trong triều đình. Biên tu: Tên chức quan, nắm việc sửa đổi quốc sử, thực lục. Thiệu Hưng năm thứ năm, Hồ Thuyên nhậm chức quan Biên Tu ở Xu Mật Viện.

(4) Vương Luân 王倫: Tự là Chính Đạo, người ở huyện Sân (hoặc Sằn) (còn gọi là Hữu Sân/ Hữu Sằn, nay ở tỉnh Sơn Đông). Năm 1137, sau khi thái hậu Ninh Đức và Tống Huy Tông chết ở nước Kim, Vương Luân nhậm chức Nghênh Phụng Tể Cung Sứ, đi sứ sang nước Kim, đồng ý hủy lệnh cầu hòa. Năm 1138, Vương Luân lại đi sứ sang nước Kim, không lâu sau thì cùng sứ thần nước Kim về Lâm An. Thiệu Hưng năm thứ 9, Vương Luân lại đi sứ sang nước Kim thì bị bắt, 6 năm sau quyết không chịu hàng Kim, tự nói rằng: “Thần nay nhận mệnh mà bị bắt lại, vì thứ hư danh này nên muốn gột sạch, thần cam lấy cái chết vì đã làm nhục mệnh nước vậy” (臣今將命被留,欲污以偽職,臣敢愛一死以辱命). Sau bị vua nước Kim bóp cổ chết. Ở trong “Tống Sử” thì lại giễu cợt y rất nhiều, Triệu Dực trong “Chấp nhị sử trát ký” 廿二史札記 có nói kĩ về Vương Luân, có thể tham khảo được.

(5) Tể tướng: Chỉ Tần Cối, đương khi ấy nhậm chức Tể Tướng, cùng với người Kim cấu hòa. Cuối năm thời Bắc Tông, nhậm chức Ngự Sử Trung Thừa, cùng với Tống Huy Tông, Tống Khâm Tông bị người Kim bắt trói. Sau khi được trả về Nam, lại nhậm thêm chức tể tướng dưới triều Nam Tống, chấp chính được 9 năm. Từng vì án “Mạc tu hữu” hại chết Nhạc Phi mà danh ô muôn đời lưu lại.

(6) Câu này có nghĩa: Thiệu Hưng năm thứ 8 vua nước Kim phái Tiêu Triết, Trương Thông Cổ làm Giang Nam chiêu dụ sứ, cùng với Vương Luân đi sứ nước Tống, mang danh “Chiêu Dụ” tức đã coi nhà Tống là một nước bị lệ thuộc. Vì các vị quân chủ thời xưa khi thông cáo với quần thần hoặc bách tính thì mới gọi là “chiêu dụ”. Căn cứ vào “Vương Luân truyện” trong Tống sử thì: “Vua Kim uổng công thiết yến ba ngày, sai Kiểm thư tuyên hội viện sự Tiêu Triết, Tả ti lang trung Trương Thông Cổ làm Giang Nam chiêu dụ sứ, cùng dắt Luân theo. Triều đình cho rằng sứ thần nhà Kim ngạo mạn, phóng túng, nên cãi cọ trông thật huyên náo, đa phần quy tội Luân (cõng rắn cắn gà nhà)”.

(7) Lưu Dự 劉豫: Tự là Ngạn Du 彥遊, người Phụ Thành, nay thuộc nút giao sông ở Hà Bắc. Là phản thần thời Nam Tống, là chính quyền bù nhìn cho nhà Kim bị xưng là Ngụy Tề hoàng đế. Khi quân Kim xuống phía Nam thì không lâu sau đi đầu hàng quân Kim. Năm 1130 (Kiến Viêm năm thứ 4), được người Kim xưng là Đại Tề hoàng đế, đóng đô ở Đại Danh (Nay ở Hà Bắc), sau chuyển sang Biện Kinh (Nay ở huyện Khai Phong tỉnh Hà Nam). Thống trị Hà Nam, đất Xiểm Tây, phối hợp với quân Kim mà tấn công nhà Tống. Năm 1137, bị phế truất, hai cha con đều bị giặc bắt, sau bị chuyển đi sống ở Lâm Hoàng (Nay ở trong Mông Cổ, gần Ba Lâm Tả Kỳ) sau rồi chết ở đó.

(8) Thương giám bất viễn 商鑑不遠: Tức Ân giám bất viễn (Gương nhà Ân không xa), người Tống vì tránh phạm húy cha của Tống Thái Tổ là Triệu Hoằng Ân, nên thay Ân thành Thương. Lấy ý từ Đại Nhã trong Kinh Thi, bài Đãng: “Ân giám bất viễn, tại Hạ hậu chi thế” (殷鑑不遠,在夏后之世 – Cái gương của nhà Ân không xa, ở tại đời vua nhà Hạ đó). Sau phiếm chỉ những chuyện làm răn dạy cho người đời sau. Trong ngữ cảnh này để chỉ bài học: Lưu Dự xưng thần với nhà Kim rốt cuộc lại bị nhà Kim thù ghét giết chết.

(9) Câu này ý chỉ: Triệu Cát vào thời Thiệu Hưng năm thứ 5 chết ở nước Kim. Thái hậu, chỉ mẹ đẻ của Cao Tông Vi Hiền Phi, cùng với Huy Tông bị bắt ở nước Kim. Uyên Thánh, tức chỉ Tống Khâm Tông Triệu Hoàn, Uyên Thánh là tôn hiệu. Tống Triệu Đỉnh trong “Kiến Viêm bút lục” có viết: “Đầu năm Tĩnh Khang, Trọng Sư Đạo bước vào Xu phủ, Uyên Thánh hỏi rằng: “Lúc còn làm quan nhỏ, không thể có người có tri kiến đúng không?”

(10) Bại ở Tương Dương 敗之於襄陽: Chỉ năm 1134, Nhạc Phi truy đánh đại tướng của Lưu Dự là Lý Thành bắt quy phục ở Tương Dương. Ở trong “Nhạc Phi truyện” của Tống Sử.

(11) Bại ở Hoài thượng 敗之於淮上: Chỉ năm Thiệu Hưng thứ 4 Hàn Thế Trung truy kích đại quân của nhà Kim nên bên bờ sông Hoài. Có thể thấy trong “Hàn Thế Trung truyện” của Tống Sử.

(12) Bại ở Qua khẩu 敗之於渦口: Chỉ Thiệu Hưng năm thứ 6 Dương Nghi Trung (còn có tên là Tồn Trung), Trương Tông Nhan đánh bại ba vạn quân của Lưu Dự. Có thể thấy trong “Dương Tồn Trung truyện” của Tống sử. Qua khẩu là cửa khẩu nơi nước sông Qua nhập vào sông Hoài, thuộc tỉnh An Huy, phía Đông Bắc huyện Hoài Viễn.

(13) Bại ở Hoài Âm 敗之於淮陰: Thiệu Hưng năm thứ tư, “Hoàng đế thân chinh giành đại thắng ở Hoài Âm“, trong Tống sử, Chương Nghị truyện.

(14) Lỗ Trọng Liên 魯仲連: Là một cao sĩ nước Tề thời kỳ Chiến Quốc. Rất giỏi trong việc vạch ra chiến lược, thường đi chu du sang các nước, nhằm giải quyết mâu thuẫn. Căn cứ vào “Chiến Quốc sách”, chương Triệu sách III có viết: “Triệu Lý Vương năm thứ 9 (Năm 257 TCN), quân Tần vây khốn kinh đô Hàm Đan của nước Triệu. Ngụy vương phái sứ thần khuyên Triệu vương tôn tần lên làm đế, Triệu vương do dự không quyết. Lỗ Trọng Liên hết sức phân trần cái hại khi tôn Tần làm đế, thuyết phục hai nước Triệu, Ngụy liên hiệp với nhau mà kháng Tần. Hai nước đồng tình với chủ trương đó của Lỗ Trọng Liên, nước Tần vì thế mà phải thu quân“. (趙孝王九年(前257),秦軍圍困趙國國都邯鄲。魏王派使臣勸趙王尊秦為帝,趙王猶豫不決。魯仲連力陳以秦為帝之害,說服趙、魏兩國聯合抗秦。兩國接受其主張,秦軍以此撤軍)

(15) Thạch Tấn 石晉: Chính quyền thời Hậu Tấn đời Ngũ Đại, do Thạch Kính Đường thiết lập. Thạch Kính Đường câu dẫn quân của Khiết Đan diệt trừ đời Đường, cắt 16 châu của Yên, Vân giao cho Khiết Đan, nhận lấy sách phong, quốc hiệu là Tấn, tôn xưng vua Khiết Đan làm Phụ hoàng đế (vua cha), tự xưng là Nhi hoàng đế (vua con).

(16) Lễ bộ thị lang: Phó trưởng quan nắm giữ cơ cấu các việc như quản lí lễ nhạc, tế tự, giáo dục, khoa cử. Tăng Khai 曾開: Tự là Thiên Du 天遊, anh của Tăng Cơ. Ông từng đương đầu phản đối tư tưởng nghị hòa của Tần Cối, trong Tống sử, chương Tần Cơ truyện có viết: “Nhà vua đương lúc binh cơ lớn mạnh, nắm giữ đất nước, là bậc tôn chủ đương che chở cho dân, cớ sao lại tự hạ thấp làm nhục bản thân mình đến thế”. Vì việc ấy đã trêu tức Tần Cối, nên sau bị biếm ra châu Huy.

(17) Câu này có xuất xứ từ trong Luận Ngữ 論語, chương Hiến Vấn 憲問, nhằm khẳng định công trạng lịch sử của Quản Trọng. Quản Trọng 管仲, tên là Di Ngô 夷吾, tự là Trọng 仲, là một chính trị gia nổi tiếng nước Tề vào thời Xuân Thu, được xưng là “Xuân Thu đệ nhất tướng” 春秋弟一相, phò trợ Tề Hoàn Công trở thành vị bá chủ đệ nhất thời kỳ Xuân Thu.

(18) Tề Hoàn Công (chữ Hán: 齊桓公; 715 TCN – 7 tháng 10, 643 TCN), tên thật là Khương Tiểu Bạch (姜小白), là vị quân chủ thứ 16 của nước Tề – chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Tề Hoàn công là vị quân chủ chư hầu xưng bá chủ đầu tiên thời Xuân Thu. Ông thường được xếp vào hàng đầu tiên của danh sách Ngũ bá. Năm 679 TCN, ông triệu tập các nước chư hầu để hội minh, trở thành vị Bá chủ đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa thời Tiên Tần. Khi đó Hoa Hạ chư hầu bị áp chế bởi các chư hầu, Quản Trọng đã đề xuất Tôn vương Nhương di (尊王攘夷), Bắc kích Sơn Nhung, Nam phạt nước Sở, do đó Tề Hoàn công chân chính trở thành Trung Nguyên bá chủ, được Thiên tử nhà Chu phong thưởng và làm lễ chính thức.

(19) Tôn Cận 孫近: Người Vô Tích, thời Nam Tống, xuất thân Tiến sĩ, làm quan đến chức Hàn Lâm Viện học sĩ. Năm 1138, tán trợ chủ trương nghị hòa của Tần Cối, trừ bỏ chức Tham tri chính sự, lại muốn chiếm lấy chức Đồng tri xu mật viện, trước mặt quân Kim thì khom lưng uốn gối.

(20) Bạn thực trung thư 伴食中書: Chỉ những kẻ nhậm chức giữ vị mà không làm gì cả. Trong hoàng cung của triều Tống thiết đặt riêng một khu quan thự, gọi là “Chính sự đường” là nơi tể tướng thảo luận việc công, Tôn Cận thân làm phó tể tướng, mà lại tán đồng với Tần Cối, không có chủ trương gì, cho nên gọi là “Bạn thực trung thư”. Xuất xứ từ trong Cựu Đường thư 舊唐書, chương Lư Hoài Thận truyện 盧懐慎傳: “Hoài Thận cùng với Diêu Sùng nắm giữ Xu mật, Hoài Thận tự cho mình yếu kém chẳng bằng Sùng, mọi việc đều đùn đẩy cho ông ta làm, nên bị người đời gọi là “Bạn thực trung thư“”. Thời nhà Đường, sau khi việc họp hoàn tất, tể tướng sẽ dẫn quan lại tập trung ở thượng thư tỉnh đô đường mà dùng bữa, sau để chỉ người giữ ngôi cao chức trọng mà vô công rồi nghề, chỉ biết ăn chơi.

(21) Phó Đông hải nhi tử: Là câu nói của Lỗ Trọng Liên đời Chiến Quốc mà thư tịch thường dùng, chỉ thái độ kiên quyết phản đối chủ trương nghị hòa. Lỗ Trọng Liên từng nói: “Lũ ấy là một lũ phóng túng, vô lại mà lại xưng đế, làm vua, nếu chúng nó qua mà thống trị thiên hạ, thì Liên này chỉ có nước nhảy xuống biển Đông mà chết thôi, tôi không thể chịu được cảnh làm dân cho lũ ấy đâu”. (彼則肆然而為帝,過而遂正於天下,則連有赴東海而死矣,吾不忍為之民也).

Nguyễn Thanh Lộc dịch

(Nguồn dịch)

https://baike.baidu.com/item/%E6%88%8A%E5%8D%88%E4%B8%8A%E9%AB%98%E5%AE%97%E5%B0%81%E4%BA%8B

DỊCH THUẬT: 題李仲賓野竹圖 Đề Lý Trọng Tấn dã trúc đồ (趙孟頫) (Đề bức tranh Dã Trúc (Trúc hoang) của Lý Trọng Tấn – Triệu Mạnh Phủ)

Triệu Mạnh Phủ (1254 – 1322), tên chữ Tử Ngang (子昂); bút hiệu Tùng Tuyết (松雪), Âu Ba (鷗波) và Thủy Tinh Cung đạo nhân (水精宫道人), là một hậu duệ thuộc dòng dõi vua Huy Tông nhà Tống và đồng thời là một học giả, họa sĩ, nhà thư pháp nổi tiếng Trung Quốc thời nhà Nguyên. Lý Trọng Tấn là đồng hữu của Triệu Mạnh Phủ, là một danh họa đời nhà Nguyên, tên là Khản 衎, Trọng Tấn là tên tự, hiệu là Tức Trai Đạo Nhân 息齋道人, người  Kế Khâu, nay thuộc Bắc Kinh. Hồi nhỏ bần tùng, nhờ tài nghệ đức hạnh mà được phong đến chức Quang Lộc đại phu 光祿大夫. Không những thế còn là một người sành về trúc, có trước tác “Trúc phổ tường lục”《竹譜詳錄》, trong “Trúc Thái Phổ” có viết: “若夫態度,則又非一致,要辨老、嫩、榮、枯、風、雨、明、晦,一一樣態。如風有疾慢,雨有乍久,老有年數,嫩有次序。根、幹、筍、葉,各有時候。” (Nhược phù thái độ, tắc hựu phi nhất trí, yếu biệt lão, nộn, vinh, khô, phong, vũ, minh, hối… dạng thái. Như phong hữu tật mạn, vũ hữu sạ cửu, lão hữu niên sổ, lãn hữu thứ tự. Căn, cán, duẩn, diệp, các hữu thời hậu – Như phàm về thái độ, tất lại không có sự thống nhất, phải phân biệt các chữ “lão” (già), “nộn” (mới nhú), “vinh” (xum xuê), “khô” (héo úa), các trạng thái khi “phong” (gió), “vũ” (mưa), “minh” (sáng), “hối” (tối). Ví như gió có tật chậm, mưa có lúc lâu, già có vài năm, mới nhú thì có thứ tự. Gốc, thân, măng tre, cành lá, mỗi thứ đều có thời gian của nó). Bài đề tự này là do Triệu Mạnh Phủ viết cho bức họa Dã trúc đồ (Trúc mọc hoang) của Lý Trọng Tấn.

Triệu Mạnh Phủ (1254 – 1322), tên chữ Tử Ngang (子昂); bút hiệu Tùng Tuyết (松雪), Âu Ba (鷗波) và Thủy Tinh Cung đạo nhân (水精宫道人), là một hậu duệ thuộc dòng dõi vua Huy Tông nhà Tống và đồng thời là một học giả, họa sĩ, nhà thư pháp nổi tiếng Trung Quốc thời nhà Nguyên.

Nguyên văn: 吾友李仲賓為此君 (1) 寫真,冥搜極討,蓋欲盡得竹之情狀。二百年來,以畫竹稱者,皆未必能用意精深如仲賓也。此野竹圖,尤詭怪奇崛,窮竹之變,枝葉繁而不亂,可謂毫髮無遺恨矣。然觀其所題語,則若悲此竹之託根不得其地,故有屈抑盤躄之嘆。夫犧尊青黃 (2),木之災也。擁腫拳曲,乃不夭於斧斤。由是觀之,安知其非福邪? 因賦小詩以寄意云。

無心上霄漢,混跡向蒿蓬。

偃蹇高人意,蕭疏曠士風。

Phiên âm: Ngô hữu Lý Trọng Tấn vị thử quân tả chân,  yến sưu cực thảo, cái dục tận đắc trúc chi tình trạng. Nhị bách niên lai, dĩ họa trúc xưng giả, giai vị tất năng ý tinh thâm như Trọng Tấn dã. Thử dã trúc đồ, vưu quỷ quái kỳ quật, cùng trúc chi biến, chi diệp phồn nhi bất loạn, khả vị hào phát vô di hận hỹ. Nhiên quan kỳ sở đề ngữ, tắc nhược bi thử trúc chi thác căn, bất đắc kỳ địa, cố hữu khuất ức bàn tích chi thán. Phù hi tôn thanh hoàng, mộc chi tai dã. Ủng thũng quyền khúc, nãi bất yểu ư phủ cân. Do thị quan chi, an tri kỳ phi phúc da? Nhân phú tiểu thi dĩ kí ý vân.

Yển kiển cao nhân ý, Tiêu sơ khoáng thổ phong.

Vô tâm thượng tiêu hán, hỗn tích hướng hao bồng.”

Ví như gió có tật chậm, mưa có lúc lâu, già có vài năm, mới nhú thì có thứ tự. Gốc, thân, măng tre, cành lá, mỗi thứ đều có thời gian của nó

Dịch nghĩa: Lý Trọng Tấn bạn ta là một nhà thư họa ưa vẽ trúc, (y) dốc lòng tìm kiếm, hết mình dò hỏi, đại để muốn biết tận đặng hình dạng của trúc (hầu họa). Hai trăm năm tới đây, người được xưng tán nhờ tài vẽ trúc, chưa thấy ai có thể (đủ sức) mưu tính một cách tinh thâm như Trọng Tấn. Bức tranh họa trúc hoang nầy, (với ta) trông thật quỉ dị kì khôi, rừng trúc hẻo lánh trông như đương biến hóa, ủy uyển, cành lá xum xuê thế mà không tạp loạn, có thể gọi là “chân tơ kẽ tóc không vương vấn nỗi uất hận” vậy. Tuy nhiên quan sát kĩ (mới thấy) vấn đề cần giãi tỏ, (có vẻ) rừng trúc như đương buồn bã (vì) không được ủy thân (cắm rễ) nơi đất mẹ, cho nên (tự trong tranh) như hàm chứa một nỗi than thở kìm nén bao trùm. Ôi cái chén rượu sơn xanh sơn vàng, đó là cái họa của cây cỏ vậy. (Cây cối) Thô kệch quặn quẹo, thực ra chẳng phải do búa tạ mà chết yểu đâu. Mà thực do khi nhìn nó, sao (ta) biết được ấy chẳng phải là phúc hạnh? Nhân đó (ta) làm một bài tiểu phú đặng gửi lại ý nghĩ của mình, rằng:

Cao nhân ưa vẻ chây lười,
Dạ thư lòng khoái đón vời gió sang.
Vô tâm rảo áng mây ngàn,
Dấu chân gian trá giãi quanh cỏ đồng“.

Bức tranh họa trúc hoang nầy, (với ta) trông thật quỉ dị kì khôi, rừng trúc hẻo lánh trông như đương biến hóa, ủy uyển, cành lá xum xuê thế mà không tạp loạn, có thể gọi là “chân tơ kẽ tóc không vương vấn nỗi uất hận” vậy.

Chú thích:

(1) Thử quân: Chỉ cây trúc, là điển tích có xuất xứ từ trong Tấn Thư, chương Vương Huy chi truyện: “Vương Huy trồng trúc ở trong nhà, có người hỏi về chuyện đó, ông ta nói rằng: “Có thể được một ngày không làm vua chăng?” Sau dùng để chỉ những vật mà người ta thích. Ở đây để chỉ sự thích trúc của Lý Trọng Tấn.

(2) Hi tôn thanh hoàng: Chén rượu/ thờ sơn xanh sơn vàng, lấy ý từ trong chương Thiên địa, sách Trang Tử: “Bách niên chi mộc, phá vi hi tôn, thanh hoàng nhi văn chi, kỳ đoạn tại câu trung. Thử hi tôn ư câu trung chi đoạn, tắc mỹ ố hữu gian hỹ, kỳ ư thất tính nhất dã” (百年之木﹐破為犧尊﹐青黃而文之﹐其斷在溝中。比犠尊於溝中之斷﹐則美惡有間矣﹐其於失性一也。- Cây trăm năm cưa ra làm chén thờ sơn xanh sơn vàng, còn gỗ dư đem ném xuống hào. So sánh những chén thờ và gỗ dưới hào ấy thì đẹp xấu khác nhau xa nhưng đều là mất bản tính cả.)

Nguyễn Thanh Lộc dịch

Nguồn: https://www.kekeshici.com/shicijianshang/lidaitihua/56041.html

DỊCH THUẬT: 題李仲賓野竹圖 Đề Lý Trọng Tấn dã trúc đồ (趙孟頫) (Đề bức tranh Dã Trúc (Trúc hoang) của Lý Trọng Tấn – Triệu Mạnh Phủ)

Triệu Mạnh Phủ (1254 – 1322), tên chữ Tử Ngang (子昂); bút hiệu Tùng Tuyết (松雪), Âu Ba (鷗波) và Thủy Tinh Cung đạo nhân (水精宫道人), là một hậu duệ thuộc dòng dõi vua Huy Tông nhà Tống và đồng thời là một học giả, họa sĩ, nhà thư pháp nổi tiếng Trung Quốc thời nhà Nguyên. Lý Trọng Tấn là đồng hữu của Triệu Mạnh Phủ, là một danh họa đời nhà Nguyên, tên là Khản 衎, Trọng Tấn là tên tự, hiệu là Tức Trai Đạo Nhân 息齋道人, người  Kế Khâu, nay thuộc Bắc Kinh. Hồi nhỏ bần tùng, nhờ tài nghệ đức hạnh mà được phong đến chức Quang Lộc đại phu 光祿大夫. Không những thế còn là một người sành về trúc, có trước tác “Trúc phổ tường lục”《竹譜詳錄》, trong “Trúc Thái Phổ” có viết: “若夫態度,則又非一致,要辨老、嫩、榮、枯、風、雨、明、晦,一一樣態。如風有疾慢,雨有乍久,老有年數,嫩有次序。根、幹、筍、葉,各有時候。” (Nhược phù thái độ, tắc hựu phi nhất trí, yếu biệt lão, nộn, vinh, khô, phong, vũ, minh, hối… dạng thái. Như phong hữu tật mạn, vũ hữu sạ cửu, lão hữu niên sổ, lãn hữu thứ tự. Căn, cán, duẩn, diệp, các hữu thời hậu – Như phàm về thái độ, tất lại không có sự thống nhất, phải phân biệt các chữ “lão” (già), “nộn” (mới nhú), “vinh” (xum xuê), “khô” (héo úa), các trạng thái khi “phong” (gió), “vũ” (mưa), “minh” (sáng), “hối” (tối). Ví như gió có tật chậm, mưa có lúc lâu, già có vài năm, mới nhú thì có thứ tự. Gốc, thân, măng tre, cành lá, mỗi thứ đều có thời gian của nó). Bài đề tự này là do Triệu Mạnh Phủ viết cho bức họa Dã trúc đồ (Trúc mọc hoang) của Lý Trọng Tấn.

Triệu Mạnh Phủ (1254 – 1322), tên chữ Tử Ngang (子昂); bút hiệu Tùng Tuyết (松雪), Âu Ba (鷗波) và Thủy Tinh Cung đạo nhân (水精宫道人), là một hậu duệ thuộc dòng dõi vua Huy Tông nhà Tống và đồng thời là một học giả, họa sĩ, nhà thư pháp nổi tiếng Trung Quốc thời nhà Nguyên.

Nguyên văn: 吾友李仲賓為此君 (1) 寫真,冥搜極討,蓋欲盡得竹之情狀。二百年來,以畫竹稱者,皆未必能用意精深如仲賓也。此野竹圖,尤詭怪奇崛,窮竹之變,枝葉繁而不亂,可謂毫髮無遺恨矣。然觀其所題語,則若悲此竹之託根不得其地,故有屈抑盤躄之嘆。夫犧尊青黃 (2),木之災也。擁腫拳曲,乃不夭於斧斤。由是觀之,安知其非福邪? 因賦小詩以寄意云。

無心上霄漢,混跡向蒿蓬。

偃蹇高人意,蕭疏曠士風。

Phiên âm: Ngô hữu Lý Trọng Tấn vị thử quân tả chân,  yến sưu cực thảo, cái dục tận đắc trúc chi tình trạng. Nhị bách niên lai, dĩ họa trúc xưng giả, giai vị tất năng ý tinh thâm như Trọng Tấn dã. Thử dã trúc đồ, vưu quỷ quái kỳ quật, cùng trúc chi biến, chi diệp phồn nhi bất loạn, khả vị hào phát vô di hận hỹ. Nhiên quan kỳ sở đề ngữ, tắc nhược bi thử trúc chi thác căn, bất đắc kỳ địa, cố hữu khuất ức bàn tích chi thán. Phù hi tôn thanh hoàng, mộc chi tai dã. Ủng thũng quyền khúc, nãi bất yểu ư phủ cân. Do thị quan chi, an tri kỳ phi phúc da? Nhân phú tiểu thi dĩ kí ý vân.

Yển kiển cao nhân ý, Tiêu sơ khoáng thổ phong.

Vô tâm thượng tiêu hán, hỗn tích hướng hao bồng.”

Ví như gió có tật chậm, mưa có lúc lâu, già có vài năm, mới nhú thì có thứ tự. Gốc, thân, măng tre, cành lá, mỗi thứ đều có thời gian của nó

Dịch nghĩa: Lý Trọng Tấn bạn ta là một nhà thư họa ưa vẽ trúc, (y) dốc lòng tìm kiếm, hết mình dò hỏi, đại để muốn biết tận đặng hình dạng của trúc (hầu họa). Hai trăm năm tới đây, người được xưng tán nhờ tài vẽ trúc, chưa thấy ai có thể (đủ sức) mưu tính một cách tinh thâm như Trọng Tấn. Bức tranh họa trúc hoang nầy, (với ta) trông thật quỉ dị kì khôi, rừng trúc hẻo lánh trông như đương biến hóa, ủy uyển, cành lá xum xuê thế mà không tạp loạn, có thể gọi là “chân tơ kẽ tóc không vương vấn nỗi uất hận” vậy. Tuy nhiên quan sát kĩ (mới thấy) vấn đề cần giãi tỏ, (có vẻ) rừng trúc như đương buồn bã (vì) không được ủy thân (cắm rễ) nơi đất mẹ, cho nên (tự trong tranh) như hàm chứa một nỗi than thở kìm nén bao trùm. Ôi cái chén rượu sơn xanh sơn vàng, đó là cái họa của cây cỏ vậy. (Cây cối) Thô kệch quặn quẹo, thực ra chẳng phải do búa tạ mà chết yểu đâu. Mà thực do khi nhìn nó, sao (ta) biết được ấy chẳng phải là phúc hạnh? Nhân đó (ta) làm một bài tiểu phú đặng gửi lại ý nghĩ của mình, rằng:

Cao nhân ưa vẻ chây lười,
Dạ thư lòng khoái đón vời gió sang.
Vô tâm rảo áng mây ngàn,
Dấu chân gian trá giãi quanh cỏ đồng“.

Bức tranh họa trúc hoang nầy, (với ta) trông thật quỉ dị kì khôi, rừng trúc hẻo lánh trông như đương biến hóa, ủy uyển, cành lá xum xuê thế mà không tạp loạn, có thể gọi là “chân tơ kẽ tóc không vương vấn nỗi uất hận” vậy.

Chú thích:

(1) Thử quân: Chỉ cây trúc, là điển tích có xuất xứ từ trong Tấn Thư, chương Vương Huy chi truyện: “Vương Huy trồng trúc ở trong nhà, có người hỏi về chuyện đó, ông ta nói rằng: “Có thể được một ngày không làm vua chăng?” Sau dùng để chỉ những vật mà người ta thích. Ở đây để chỉ sự thích trúc của Lý Trọng Tấn.

(2) Hi tôn thanh hoàng: Chén rượu/ thờ sơn xanh sơn vàng, lấy ý từ trong chương Thiên địa, sách Trang Tử: “Bách niên chi mộc, phá vi hi tôn, thanh hoàng nhi văn cgi, kỳ đoạn tại cấu trung. Thử hi tôn ư cấu trung chi đoạn, tắc mỹ ố hữu gian hỹ, kỳ ư thất tính nhất dã” (百年之木﹐破為犧尊﹐青黃而文之﹐其斷在溝中。比犠尊於溝中之斷﹐則美惡有間矣﹐其於失性一也。- Cây trăm năm cưa ra làm chén thờ sơn xanh sơn vàng, còn gỗ dư đem ném xuống hào. So sánh những chén thờ và gỗ dưới hào ấy thì đẹp xấu khác nhau xa nhưng đều là mất bản tính cả.)

Nguyễn Thanh Lộc dịch

Nguồn: https://www.kekeshici.com/shicijianshang/lidaitihua/56041.html

DỊCH THUẬT: 遊虞山記 – 張裕釗 (Bài ký dạo chơi núi Ngu Sơn – Trương Dụ Chiêu)

Trương Dụ Chiêu (1823 – 1894) tự là Liêm Khanh, người Vũ Xương Hồ Bắc, là một trong những tác gia quan trọng nổi tiếng của phái Đồng Thành 桐城. Ông có tư tưởng yêu nước mạnh mẽ, mong muốn cải thiện và đổi mới đất nước. Vì thế ông kết giao với nhiều nhà yêu nước với khát vọng quốc thái dân an. Có tập “Trương Liêm Khanh tiên sinh văn tập” nổi tiếng. Bài ký này được ông sáng tác vào năm thứ hai niên hiệu Quang Tự (1876) đời nhà Thanh, nhân một chuyến đi lên núi Ngu Sơn cùng chư vị bằng hữu. Bài ký đã miêu tả một cách rõ nét, sống động quang cảnh núi non hùng vĩ, bằng bút pháp ẩn dụ, tác giả đã đưa người đọc đến một thế giới kì ảo, mở mang tầm mắt trước những thắng cảnh danh lam, gợi tình yêu với thiên nhiên và ca ngợi lối sống ẩn dật, tự do, tự tại.

Trương Dụ Chiêu

Nguyên văn: 十八日,與黎蓴齋遊狼山 (1),坐萃景樓望虞山,樂之。二十一日,買舟渡江,明晨及常熟。時趙易州惠甫適解官歸,居於常熟,遂偕往遊焉。

虞山尻尾東入熟城 (2),出城迤西,綿二十里,四面皆廣野,山亙其中。其最勝為拂水岩 (3),巨石高數十尺,層積駢疊,若累芝菌,若重巨盤為台,色蒼碧丹赭斑駁,晃耀溢目。有二石中分,曰劍門,騞擘屹立,詭異殆不可狀。踞岩俯視,平疇廣衍數万頃8。澄湖 (4) 奔溪,縱橫盪潏其間,繡畫天施。南望毗陵、震澤 (5),連山青以相屬,厥高鑱雲,雨氣日光參錯出諸峰上。水陰上薄,盪摩闔開,變滅無瞬息定。其外蒼煙渺靄圍繚,光色純天,決眥窮睇,神與極馳。岩之麓為拂水山莊舊址,錢牧齋 (6) 之所嘗居也。嗟夫!以茲丘之勝,錢氏惘不能藏於此終焉,餘與易州乃樂而不能去云。岩阿為維摩寺,經亂,泰半毀矣。

出寺西行少折,踰嶺而北,雲海豁工,杳若天外,而狼山忽焉在前,今指謂易州:“一昔遊其上也。”又西下,為三峰寺,所在室宇,每每可憩息。臨望多古樹,有羅漢松一株,剝脫拳禿,類數百年物。寺僧俱酒果筍而餉餘兩人已,日昃矣。循山北過安福寺,唐人常建詩所謂破山寺者也 (7)。幽邃稱建詩語。寺多木樨花,自寺以往,芳馥載塗。

返自常熟北門,至言子、仲雍 (8) 墓,其上為辛峰亭。日已夕,山徑危仄不可上,期以翼日往。風雨,復不果。二十四日遂放舟趣吳門。行數十里,虞山猶蜿蜒在蓬戶,望之了然,令人欲反棹復至焉。

Phiên âm: Thập bát nhật, dữ Lê Thuần Trai du Lang Sơn, tọa Tụy Cảnh lâu vọng Ngu Sơn, lạc chi. Nhị thập nhất nhật, mãi chu độ giang, minh thần cập Thường Thục. Thời Triệu Dịch Châu Huệ phủ thích giải quan quy, cư ư Thường Thục, toại giai vãng du yên.

Thành Thường Thục

Ngu sơn khào vĩ Đông nhập Thục thành, xuất thành dĩ Tây, miên nhị thập lí, tứ diện giai khoáng dã, sơn cắng kỳ trung. Kỳ tối thắng vi Phất Thủy nham, cự thạch cao sổ thập xích, tằng tích biền điệp, nhược lũy chi khuẩn,  nhược trọng cự bàn vi đài, sắc thương bích đan giả ban bác, hoảng diệu dật mục. Hữu nhị thạch trung phân, viết Kiếm Môn, hoạch phách ngật lập, quỷ dị đãi bất khả trạng. Cứ nham phủ thị, bình trù quảng diễn sổ vạn khoảnh. Trừng hồ bôn khê, tung hoành đãng quất kỳ gian, tú họa thiên thi. Nam vọng Bì Lăng, Chấn Trạch, liên sơn thanh dĩ tương thuộc, quyết cao sàm vân, vũ khí nhật quang tham thác xuất chư phong thượng. Thủy âm thượng bạc, đãng ma hạp khai, biến diệt vô thuấn tức định. Kỳ ngoại thương yên diểu ái vi liễu, quang sắc thuần thiên, quyết tí cùng thê, thần dữ cực trì. Nham chi lộc vi Phất Thủy sơn trang cựu chỉ, Tiền Mục Trai chi sở thường cư dã. Ta phu! Dĩ tư khâu chi thắng, Tiền thị võng bất năng tàng ư thử chung yên, dư dữ Dị Châu nãi lạc nhi bất năng khứ vân. Nham a vi Duy Ma tự, kinh loạn, thái bán hủy hỹ.

Xuất tự Tây hành thiểu chiết, du lĩnh nhi Bắc, vân hải hoát công, yểu nhược thiên ngoại, nhi Lang Sơn hốt yên tại tiền, kim chỉ vị Dị Châu: “Nhất tích du kì thượng dã.” Hựu Tây hạ, vi Tam Phong tự, sở tại thất vũ, mỗi mỗi khả khế tức. Lâm vọng đa cổ thụ, hữu La Hán Tùng nhất chu, bác thoát quyền ngốc, loại sổ bách niên vật. Tự tăng câu tửu quả duẩn nhi hướng dư lưỡng nhân dĩ, nhật trắc hỹ. Tuần sơn Bắc quá An Phúc tự, Đường nhân Thường Kiến thi sở vị Phá Sơn tự giả dã. U thúy xưng kiến thi ngữ. Tự đa mộc tê hoa, tự tự dĩ vãng, phương phức tái đồ.

Ngu sơn còn có tên là Ô Mục sơn 烏目山 (núi mắt quạ), nằm ở phía Tây Bắc huyện Thường Thục, Giang Tô. Tương truyền là nơi vua Ngu Trọng nhà Tây Chu chôn ở đó, Ngu Sơn là tên cũ. Có hai khối đá từ giữa phân ra, gọi là Kiếm Môn, ví như bị (đao) bửa thành đôi mà vẫn đứng sừng sững, thứ kì hình dị dạng (đó) khó có thể mà miêu tả được.

Phản tự Thường Thục Bắc môn, chí Ngôn Tử, Trọng Ung mộ, kỳ thượng vi Tân Phong đình. Nhật dĩ tịch, sơn kính nguy trắc bất khả thượng, kì dĩ dực nhật vãng. Phong vũ, phục bất quả. Nhị thập tứ nhật toại phóng chu thú Ngô Môn. Hành sổ thập lí, Ngu Sơn do uyển diên tại phong hộ, vọng chi liễu nhiên, lịnh nhân dục phản trạo phục chí yên.

Dịch nghĩa: Ngày 18, (ta) cùng Lê Thuần Trai đi du ngoạn núi Lang Sơn, ngồi ở lầu Tụy Cảnh mà ngắm Ngu Sơn, cảm thấy vui thích (lắm). Ngày 21, mua thuyền qua sông, từ sáng sớm đã tới Thường Thục. Lúc này Triệu Huệ Phủ ở Dịch Châu vừa giải chức (từ quan) bỏ về, sống ở Thường Thục, y bèn cùng bọn ta nhất loạt đi ngoạn cảnh ở núi đó.

Mặt sau Ngu Sơn hướng về phía Đông nhập vào thành Thường Thục, ra ngoài thành chạy về hướng Tây, tiếp liền hai mươi dặm, bốn mặt đều là đồng không khoáng đãng, có lưng núi chạy suốt vào bên trong. Thứ tuyệt diệu nhất ở đấy phải kể đến hang Phất Thủy, hòn cự thạch cao chừng mười thước, lớp lớp xếp chồng, cao ngạo trùng điệp, ví như nấm mọc chất tầng, tựa hồ bàn thạch nặng cất thành đài cao, (lại có) màu xanh biếc, đỏ tía lốm đốm, lỗ chỗ, rọi sáng tràn cả mắt. Có hai khối đá từ giữa phân ra, gọi là Kiếm Môn, ví như bị (đao) bửa thành đôi mà vẫn đứng sừng sững, thứ kì hình dị dạng (đó) khó có thể mà miêu tả được. Ngồi xổm trong hang mà cúi nhìn, ruộng bằng đồng phẳng mở rộng ra chừng vạn khoảnh. Hồ Dương Trừng khe nước chảy vội, tuôn nguồn dọc ngang khởi tự bên trong rãnh hồ, đẹp đẽ như một bức họa do thiên nhiên phác nên. Từ phía Nam trông ra Bì Lăng, Chấn Trạch, núi xanh xanh biếc quyện liền vào nhau, độ cao của núi đâm xuyên lòng mây, hơi mưa và vừng sáng giao tạp vào nhau lộ ra trên những đỉnh phù vân. Dòng nước trải dài về phía nam, trên mặt sông gần sát đường chân trời, thuận dòng xiết mạnh chợt mở chợt đóng, chớp mắt chưa kịp, chẳng dừng chẳng nghỉ, hiện ra rồi biến mất. Mặt ngoài con sông khói xanh sương mịn quyện quanh thành vòng, hào quang rải khắp bầu trời, giương mắt trông xa, thần trí dạo chơi trong chốn vô cùng. Dưới chân hang động là nơi ở trước của những sơn trang vùng Phất Thủy, (cũng) là chỗ mà Tiền Mục Trai từng ở vậy. Than ôi! Với cái thắng cảnh vùng sơn khâu này, (mới tiếc cho) Tiền tiên sinh (dẫu) thất chí (cũng) không thể ẩn dật cả đời ở đây, ta cùng với Triệu Huệ Phủ vui sướng đến nỗi không muốn rời đi. Bên hang là chùa Duy Ma, (sau khi) kinh qua chiến loạn, hơn một nửa (khoảnh chùa) đã bị hủy hoại.

Ra khỏi cổng chùa từ phía Tây đi đến một khúc ngoặt nho nhỏ, băng qua sườn núi rồi đi về phía Bắc, mây trời biển cả hoát nhiên sáng sủa, mờ mờ ảo ảo thể như một vùng thiên ngoại, liền thấy núi Lang Sơn đột ngột hiện ra trước mắt. Ngay tức thì tôi chỉ tay vào ngọn núi, đứng nhìn Triệu Huệ Phủ mà nói rằng: “Đêm đó (chính ta) đã ngoạn lãm ngay trên này rồi.” Lại đi xuống phía Tây, là chùa Tam Phong, phòng ốc ở nơi đó, gian nào (cũng đều) có thể ngơi nghỉ được. Lúc đến nơi, (ta) nhìn khắp một lượt thấy (bên trong) có nhiều cây cổ thụ, có một gốc Tùng La Hán, bị phanh xẻ trơ trụi, xem ra cũng là giống cây vài trăm năm tuổi. Chúng tăng trong chùa thiết bày rượu lạt, trái cây rồi thì đưa thức ăn đến cho hai người bọn tôi, (khi ấy) trời đã tà tà, bóng đã ngả về Tây. Men theo đường núi đi về phía Bắc lần qua chùa An Phúc, (nơi)  Thường Kiến người thời Đường thường làm thơ cho nên còn gọi là chùa Phá Sơn, lời thơ (còn lưu lại trong chùa) u uẩn thâm sâu. Chùa trồng nhiều cây hoa quế, từ chùa đi lại, hương thơm ngào ngạt, nồng nã tóa ra khắp cả một con đường.

Đi ngược từ cửa Bắc thành Thường Thục, đến mộ của Ngôn Tử, Trọng Ung, phía trên là đình Tân Phong. Trời đã vào tối, đường núi hiểm trở, chật hẹp, khó lòng bước tiếp, đành chờ đến ngày mai lại cất gót. Mưa gió lại không dứt. Ngày 24, ta bèn phóng thuyền rảo tới Ngô Môn. Đi chừng mười dặm, (ngoái đầu nhìn lại thấy) Ngu Sơn hãy còn ngoằn nghèo, quanh co ngay từ cửa thuyền lợp cỏ bồng (mà nhìn ra), ngưỡng vọng về núi mà thực như đã liễu ngộ, cứ khiến người ta muốn quay mái chèo (rẽ sóng) mà đến nữa (chẳng nỡ rời).

Chú thích:

(1) Lang sơn: Nằm ở phía Nam Giang Tô thành phố Nam Thông.

(2) Thường Thục: Một thành phố ở Giang Tô. Được xưng tụng là “Giang Nam phúc địa” 江南福地.

(3) Hang Phất Thủy: Nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Giang Tô trên đỉnh phía Nam núi Ngu Sơn, “bước vào hang cốc, nước suối ví như một tấm lụa đào, khi gió phất phơ vỗ về, tức thì màn nước trở mình bay ngược, tung tóe như mưa” (下臨壑谷,水泉如練,風拂掠之,則水倒飛,噴濺如雨 – Hạ lâm hốc cốc, thủy tuyền như luyện, phong phất lược chi, tắc thủy đảo phi, phún tiễn như vũ) (Tô Châu phủ nhất 蘇州府一)

(4) Hồ Trừng: Tức chỉ hồ Dương Trừng nằm ở phía Nam thành phố Thường Thục.

(5) Bì Lăng: Tên của kinh đô cũ, chỉ Trấn Giang, Thường Châu, đất Vô Tích. Chấn Trạch: Tức chỉ Thái Hồ.

(6) Tiền Mục Trai: Tiền Khiêm Ích, tự là Thụ Chi, hiệu là Mục Trai, người Thường Thục, là một nhà văn nổi tiếng thời Minh – Thanh, đỗ Tiến sĩ vào khoảng giữa đời Minh từ năm 1573 đến năm 1620. Sau đó giữ chức Lệ bộ thượng thư, khi quân Thanh xuống phía Nam, dẫn binh mà nghênh chiến với quân địch, phẩm quan được phong đến chức Lễ bộ thị lang. Sau vì để mất khí tiết dân tộc nên nhiều kẻ sĩ không thường nhắc đến nữa.

(7) Thường Kiến: Người đời Thạnh Đường, thường lấy đề tài “sơn, thủy, yên, hoa, tuyết, nguyệt, phong” mà làm thơ. Có trước tác tập “Thường Kiến tập”, có bài thơ ngũ luật “Phá sơn tự hậu thiền viện” 《破山寺後禪院》lưu danh đời đời.

(8) Ngôn Tử: Học trò của Khổng Tử, tên là Ngôn Yển 言偃, tự là Tử Du. Trọng Ung: Em trai của Ngô Thái Bá, sau được làm vua, là người kiến lập nước Ngô. Mộ của Ngôn Yển và Trọng Ung đều ở Ngu Sơn. Trong Sử Ký, phần Ngô Thái Bá thế gia 吳太伯世家 có viết: “Ngô địa kí có nói rằng: “Mồ của Trọng Ung ở trên núi Ngu Sơn, phía Tây Nam thành Thường Thục, quê hương nước Ngô, cùng một chỗ với mồ của Ngôn Yển” (仲雍塚在吳鄉常熟縣西南虞山上,與言偃塚並列)

Nguyễn Thanh Lộc dịch

Nguồn: https://baike.baidu.com/item/%E6%B8%B8%E8%99%9E%E5%B1%B1%E8%AE%B0/9532873

DỊCH THUẬT: THÚC HƯỚNG HẠ BẦN 叔向賀貧 (Thúc Hướng mừng cái nghèo)

Thúc Hướng gặp Hàn Tuyên Tử.

Tác giả: Tả Khưu Minh.
Xuất xứ: Quốc Ngữ – Tấn Ngữ Bát.
Thời đại: Xuân Thu.
Thể tài: Tản văn.

Nguyên văn: 叔向見韓宣子,宣子憂貧,叔向賀之。宣子曰:“吾有卿之名而無其實,無以從二三子,吾是以憂,子賀我,何故?”

對曰:“昔欒武子無一卒之田,其宮不備其宗器,宣其德行,順其憲則,使越於諸侯。諸侯親之,戎狄懷之,以正晉國。行刑不疚,以免於難。及桓子,驕泰奢侈,貪欲無藝,略則行志,假貨居賄,宜及於難,而賴武之德以沒其身。及懷子,改桓之行,而修武之德,可以免於難,而離桓之罪,以亡於楚。夫郤昭子,其富半公室,其家半三軍,恃其富寵,以泰於國。其身屍於朝,其宗滅於絳。不然,夫八郤,五大夫,三卿,其寵大矣,一朝而滅,莫之哀也,唯無德也。今吾子有欒武子之貧,吾以為能其德矣,是以賀。若不憂德之不建,而患貨之不足,將吊不暇,何賀之有?”

宣子拜,稽首焉,曰:“起也將亡,賴子存之,非起也敢專承之,其自桓叔以下,嘉吾子之賜。” 

Phiên âm: Thúc Hướng kiến Hàn Tuyên Tử. Tuyên Tử ưu bần. Thúc Hướng hạ chi. Tuyên Tử viết: “Ngô hữu khanh chi danh nhi vô kỳ thực, vô dĩ đồ nhị tam tử, ngô thị dĩ ưu. Tử hạ ngã, hà cố?” Đối viết: “Tích Loan Võ tử vô nhất tốt chi điển, kỳ cung bất bị kỳ tông khí; Tuyên kỳ đức hành, thuận kỳ hiến tắc, sử việt ư chư hầu. Chư hầu thân chi, Nhung Địch hoài chi, dĩ chính Tấn quốc; hành hình bất cứu, dĩ miễn ư nan. Cập Hoàn Tử kiêu thái xa xỉ, tham dục vô nghệ, lược tắc hành chí, giả thải cư hối, nghi cập ư nan; nhi lại võ chi đức, dĩ một kỳ thân. Cập Hoài Tử, cải Hoàn chi hành, nhi tu Võ chi đức, khả dĩ miễn vu nan; nhi ly Tuyên chi tội, dĩ vong vu Sở. Phu Khước Chiêu Tử, kỳ phú bán công thất, kỳ gia bán tam quân. Thị kỳ đương sủng, dĩ thái vu quốc. Kỳ thân hộ vu Triều, kỳ tông diệt vu Giáng. Bất nhiên, phù bát khước ngũ đại phu tam khanh, kỳ sủng đại hỹ, nhất triều nhi diệt, mạc chi suy dã, duy vô đức dã. Kim ngô tử hữu Loan Tử chi bần, ngô dĩ vi năng kỳ đức hỹ, thị dĩ hạ. Nhược bất ưu đức chi bất kiến, nhi hoạn hóa chi bất túc, tương điếu bất hạ, hà hạ chi hữu?” Tuyên Tử bái khể thủ yên, viết: “Khởi dã tương vong, lại tử tồn chi. Phi Khởi dã cảm chuyên thừa chi, kỳ tự Hoàn Thúc dĩ hạ, gia ngô tử chi tứ.”

Nay ông (bạn tôi) có cái nghèo của Loan Tử, ta cho rằng (ông) có thể đạt tới cái đức (ông ấy), vì thế mà chúc mừng.

Dịch nghĩa: Thúc Hướng gặp Hàn Tuyên Tử. Tuyên Tử thì lo lắng về cái nghèo, còn Thúc Hướng chúc mừng điều đó. Tuyên Tử nói rằng: “Ta mang danh khanh tướng mà (chức đó) không có của cải, không biết lấy gì để mà theo (giao du) với mấy ông (chức cao), ta vì thế mà lo phiền. Ông lại chúc mừng ta, là vì sao?” Đáp rằng: “Xưa Loan Vũ Tử không có một tốt ruộng (100 khoảnh ruộng), trong cung của ông không có đầy đủ đồ đạc tế tự, (thế mà ông vẫn) truyền bá đức hạnh, thuận theo phép tắc, khiến cho thanh thế vượt hơn các nước chư hầu. Các nước chư hầu thân cận với ông ấy, Nhung Địch cũng nhớ tưởng (quy phụ) đến, làm yên định nước Tấn, thực thi hình phạt mà không hổ thẹn, làm (cho nơi nơi) thoát cái cảnh nạn tai. Đến Hoàn Tử, buông thả mặc sức tiêu pha, tham dục không cùng, làm trái quy tắc, đi theo ý riêng, tham ô của công, đút lót tiền của, nên đáng lẽ lúc gặp nạn cũng chỉ nương theo cái đức của Võ mà sống trọn tuổi đời. Đến Hoài Tử, thay đổi cách làm việc của Hoàn, mà tu sửa cái đức của Võ, lại có thể thoát được nạn tai, mà vì mắc phải cái tội của Hoàn, nên bỏ trốn qua nước Sở. Quan đại phu Khước Chiêu Tử, của cải (ông) chiếm phân nửa ông vua, gia đình (ông) chiếm phân nửa ba quân. Cậy nhờ vào phú quý vinh hoa, sự sủng ái của vua, mà kiêu ngạo với người dân trong nước. Bản thân ông ta phơi thây ở trong triều, tổ tông ông ta lại bị tuyệt diệt ở đất Giáng. Không những thế, trong 8 người họ Khích có 3 người làm quan Khanh, 5 người là Đại Phu, thân được nhiều ân sủng lớn như thế, chỉ một chốc mà tan mất, không phải là đau thương sao, chỉ bởi do không có đức vậy. Nay ông (bạn tôi) có cái nghèo của Loan Tử, ta cho rằng (ông) có thể đạt tới cái đức (ông ấy), vì thế mà chúc mừng. Nếu như không lo lắng chuyện đạo đức không được kiến thiết (gầy dựng), mà lại chỉ lo của cải (trong nhà) không đủ, chia buồn lại không kịp, có gì phải chúc mừng?” Tuyên Tử dập đầu bái tạ, nói rằng: “Khởi này sắp chết, nhờ ông mà còn (tồn tại), không phải Khởi này dám nhận cho riêng mình mà còn cả họ Hoàn Thúc của ta về sau, tốt đẹp đều nhờ ơn của ông”.

Nguyễn Thanh Lộc dịch

Nguồn: https://baike.baidu.com/item/%E5%8F%94%E5%90%91%E8%B4%BA%E8%B4%AB

DỊCH THUẬT: QUÝ VĂN TỬ LUẬN THIẾP MÃ 季文子論妾馬 (Quý Văn Tử luận về thiếp và ngựa)

Quý Văn Tử luận thiếp mã 季文子論妾馬 là một thiên tản văn được viết trong phần Lỗ ngữ của sách Quốc ngữ do sử gia kiệt xuất Tả Khưu Minh trước tác. Câu chuyện tuyên dương tư tưởng Nho gia lấy đức mà trị giáo thiên hạ. Đặc biệt là bài học về sự tiết kiệm, không lãng phí.

Quý tôn Hàng Phủ tức Quý Văn tử, là vị tông chủ thứ ba của Quý tôn thị, một trong Tam Hoàn của nước Lỗ dưới thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc, làm phụ tá cho vua Tuyên Thành.

Nguyên văn: 季文子相宣成,無衣帛之妾,無食粟之馬。仲孫它諫曰:“子為魯上卿,相二君矣,妾不衣帛,馬不食粟,人其以子為愛,且不華國乎!”文子曰:“吾亦願之。然吾觀國人,其父兄之食粗而衣惡者猶多矣,吾是以不敢。人之父兄食粗衣惡,而我美妾與馬,無乃非相人者乎!且吾聞以德榮為國華,不聞以妾與馬。”

文子以告孟獻子,獻子囚之七日。自是,子服之妾衣不過七升之布,馬餼不過稂莠。文子聞之,曰:“過而能改者,民之上也。”使為上大夫。

Phiên âm: Quý Văn Tử tương Tuyên Thành, vô ý bạch chi thiếp, vô thực túc chi mã. Trọng Tôn Đà gián viết: “Tử vi Lỗ thượng khanh, tương nhị quân hỹ, thiếp bất ý bạch, mã bất thực túc, nhân kì dĩ tử vi ái, thả bất hoa quốc hồ?” Văn Tử viết: “Ngô diệc nguyện chi. Nhiên ngô quan quốc nhân, kì phu huynh chi thực thô nhi y ác giả do đa hỹ, ngô thị dĩ bất cảm. Nhân chi phu huynh thực thô ý ác, nhi ngã mỹ thiếp dữ mã, vô nãi phi tương nhân giả hồ! Thả ngô văn dĩ đức vinh vi quốc hoa, bất văn dĩ thiếp dữ mã”.

Văn Tử dĩ cáo Mạnh Hiến Tử (1), Hiến Tử tù chi thất nhật. Tự thị, Tử Phục chi thiếp ý bất quá thất thăng chi bố, mã hí bất quá lang dửu (2). Văn Tử văn chi, viết: “Quá nhi năng cải giả, dân chi thượng dã!” Sử vi thượng đại phu.

Dịch nghĩa: Quý Văn Tử làm phụ tá cho vua Tuyên Thành. Không cho tỳ thiếp mặc áo lụa, không cho (lừa) ngựa ăn thóc gạo. Trọng Tôn Đà can ngăn nói rằng: “Ông là bậc thượng khanh của nước Lỗ, phò tá hai vua, (lại để cho) tỳ tất không mặc áo lụa, (lừa) ngựa không được ăn thóc lúa, người người rất có thể cho ông là kẻ cò kè, bủn xỉn, như thế không thể làm nước nhà quang thái được vậy thay!” Văn Tử nói rằng: “Ta cũng mong cầu đặng việc ấy. Thế nhưng, ta quan sát thấy nhân dân trong nước, (những kẻ có) cha anh (họ) phải ăn những thứ thô kém, mặc những thứ cũ kĩ thực nhiều vậy, ta thực nhân đó mà không dám (làm vậy). Cha anh của người người ăn những thứ thô lậu, mặc những đồ rách rưới, mà ta lại cho tì tất mang đồ đẹp, (lừa) ngựa ăn thức ngon, sợ lại chẳng phải là người phò tá một nước vậy! Vả chăng ta nghe có việc lấy đức tốt để làm đất nước phồn vinh, chứ không nghe (đến chuyện) lấy tì tất với (lừa) ngựa (ra mà làm đất nước phồn thạnh)!”

Vả chăng ta nghe có việc lấy đức tốt để làm đất nước phồn vinh, chứ không nghe (đến chuyện) lấy tì tất với (lừa) ngựa (ra mà làm đất nước phồn thạnh)!”

Văn Tử đem chuyện ấy báo với Mạnh Hiến Tử, Hiến Tử cho bỏ tù người ấy (tức Tôn Trọng Đà) bảy ngày. Từ đó, tì tất của Tử Phục mặc vải không quá bảy thăng, ngựa ăn không hơn các loại cỏ dại. Văn Tử nghe thấy việc ấy, nói rằng: “Người có lỗi mà có thể sửa đổi, tức trên cả muôn dân vậy!” (Bèn) cho làm Thượng đại phu.

Chú thích:

(1) Mạnh Hiến Tử: Cha của Tôn Trọng Đà.

(2) Lang dửu 稂莠 là Lang và Dửu, Lang là một loại cỏ dại, thân lá giống như lúa nhưng không kết hạt, thường mọc lẫn trong cây lúa, làm hại mầm lúa non, Dửu là loại cỏ thân mọc thành nhánh cứng, không có lông, mùa hè mọc ra tua lúa, hình như đuôi chó, nên còn có tên là cẩu vĩ thảo 狗尾草. Lang dửu ý chỉ những loài cỏ tạp, cỏ dại.

Nguyễn Thanh Lộc dịch

Nguồn: https://baike.baidu.com/item/%E5%AD%A3%E6%96%87%E5%AD%90%E8%AE%BA%E5%A6%BE%E9%A9%AC

DỊCH THUẬT: VƯƠNG TÔN NGỮ LUẬN SỞ BẢO 王孫圉論楚寶 (Vương Tôn Ngữ bàn luận về bảo vật của nước Sở)

Vương Tôn Ngữ luận Sở bảo 王孫圉論楚寶 là một thiên tản văn trích từ trong Quốc Ngữ của nhà sử học kiệt xuất Tả Khưu Minh 左丘明 viết vào thời Xuân Thu.

Vương Tôn Ngữ luận Sở bảo 王孫圉論楚寶 là một thiên tản văn trích từ trong Quốc Ngữ của nhà sử học kiệt xuất Tả Khưu Minh 左丘明 viết vào thời Xuân Thu. Xuất xứ trong phần Sở quốc 楚國, là một điển cố tiêu biểu của văn học Trung Hoa, nói về những giá trị chân thực của bảo vật, đưa ra những định nghĩa xác đáng rằng như thế nào là một bảo vật đúng ý đúng nghĩa. Câu chuyện là một bài học đạo đức mang tầm vĩ mô, huấn hỗ con người đến bờ vực của sự tỉnh ngộ, nhận ra được những chân giá trị trong đời thực.

Nguyên văn: 王孫圉聘於晉,定公饗之。趙簡子鳴玉以相,問於王孫圉曰:“楚之白珩猶在乎?”對曰“然。”簡子曰:“其為寶也幾何矣?”曰:“未嘗為寶。楚之所寶者,曰觀射父,能作訓辭,以行事於諸侯,使無以寡君為口實。又有左史倚相,能道訓典,以敘百物,以朝夕獻善敗於寡君,使寡君無忘先王之業;又能上下說乎鬼神4,順道其欲惡,使神無有怨痛於楚國。又有藪曰雲,連徒洲,金、木、竹、箭之所生也。龜、珠、角、齒,皮、革、羽、毛,所以備賦用以戒不虞者也。所以共幣帛,以賓享於諸侯者也。若諸侯之好幣具,而導之以訓辭,有不虞之備,而皇神相之。寡君其可以免罪於諸侯,而國民保焉。此楚國之寶也。若夫白珩,先王之玩也,何寶之焉?

“圉聞國之寶,六而已。明王聖人能製議百物,以輔相國家,則寶之;玉足以庇蔭嘉穀,使無水旱之災,則寶之;龜足以憲臧否,則寶之;珠足以御火災,則寶之;金足以御兵亂,則寶之;山林藪澤足以備財用,則寶之。若夫嘩囂之美,楚雖蠻夷,不能寶也。”

Phiên âm: Vương Tôn Ngữ sính u Tấn, Định Công hưởng chi, Triệu Giản Tử đề ngọc dĩ tương. Vấn ư Vương Tôn Ngữ viết: “Sở chi bạch hành, do tại hồ?” Đối viết: “Nhiên.” Giản Tử viết: “Kỳ vi bảo dã kỉ hà hỹ?” Viết: “Vị thường vi bảo. Sở chi sở bảo giả viết Quán Dịch Phủ, năng tác huấn từ, dĩ hành sự ư chư hầu, sử vô dĩ quả quân vi khẩu thực. Hựu hữu Tả Sử, Ỷ Tương năng đạo huấn điển, dĩ tự bách vật, dĩ triêu tịch hiến thiện bại ư quả quân, sử quả quân vô vong tiên sinh chi nghiệp. Hựu năng thượng hạ thuyết hồ quỷ thần, huấn đạo kỳ dục ác, sử thần vô hữu oán thống vu Sở quốc. Hựu hữu tẩu, viết Bạch Liên Đồ Châu, kim mộc trúc tiễn chi sở sinh dã. Quy châu giác xỉ, bì cách vũ mao, sở dĩ bị phú dụng, dĩ giới bất ngu giả dã, sở dĩ cộng tệ bạch, dĩ tân hưởng ư chư hầu giả dã. Nhược chư hầu chi hảo tệ cụ nhi đạo chi dĩ huấn từ, hữu bất ngu chi bị nhi hoàng thần tương chi, quả quân kỳ khả dĩ miễn tội ư chư hầu, nhi quốc dân toàn yên. Thử Sở quốc chi bảo dã. Nhược phù bạch hành, tiên vương chi ngoạn dã, hà bảo yên?

Ngữ văn quốc chi bảo, lục nhi dĩ: Thánh năng chế nghị bách vật, dĩ phụ tương quốc gia, tắc bảo chi; ngọc túc dĩ tí ấm gia cốc sử vô thủy hạn chi tai, tắc bảo chi; quy túc dĩ hiến tang bĩ, tắc bảo chi; châu túc dĩ ngự hỏa tai, tắc bảo chi; kim túc dĩ ngự binh loạn, tắc bảo chi; sơn lâm tẩu trạch túc dĩ bị tài dụng, tắc baoe chi. Nhược phù hoa hiêu chi mỹ, Sở tuy man di, bất năng bảo dã”.

Dịch nghĩa: Vương Tôn Ngữ đi sứ thông hiếu với nước Tấn, Định Công ban yến cho y, Triệu Giản Tử đeo ngọc tiếng kêu lách cách (lấy đó) làm lễ tiếp. Mới hỏi Vương Tôn Ngữ rằng: “Ngọc Bạch Hành nước Sở, có còn (ở quý quốc) không?” Đáp rằng: “Còn chứ!” Giản Tử nói rằng: “Vật đó được cho là bảo vật bao nhiêu năm rồi (còn giá trị không)?”

Đáp rằng: “Chưa từng là bảo vật. Thứ bảo vật của nước Sở tôi là Quán Dịch Phủ, có thể làm nên văn giáo huấn (huấn từ), lấy đó mà hành sự (làm việc) với các nước chư hầu, khiến cho các nước chư hầu không lấy vua tôi (quả quân) làm trò đùa. Lại có Tả Sử Ỷ Tương, có thể dạy được huấn điển, lấy đó để xử lí trăm việc, để sớm tối hiến các kế hay dở với đức vua, khiến cho đức vua không quên cơ nghiệp của tổ tiên. Lại có thể thuyết giáo với quỷ thần trên dưới, thuận theo cái ý muốn ý ghét của quỷ thần, khiến cho thần thánh không có điều oán thán với nước Sở. Lại có đầm rộng, gọi là đầm Vân Mộng, bãi Đồ Châu, là cái nơi sản sinh ra kim khí, cây gỗ, tre trúc, cung tên. Mai rùa, ngọc quý, sừng tê, ngà voi, da hổ, lông vũ để chuẩn bị, cấp cho nơi nơi sử dụng, lấy những thứ đó phòng bị không gặp lo lắng, bất trắc. Có thể cùng với lụa là, lấy làm đồ biếu cho khách quý ở các nước chư hầu. Như thế chính nhờ sự yêu thích đồ dùng, lụa là của các nước chư hầu nên có thể hướng dẫn họ đến được với văn chương giáo huấn (huấn từ), có chuyện không còn lắng thì đầy đủ đồ dùng mà lại được thần linh tương trợ, đức vua nước tôi có thể miễn tội với các nước chư hầu mà quốc gia, nhân dân được bảo toàn vậy. Đó là bảo vật ở nước Sở tôi vậy. Như ngọc Bạch Hành, chỉ là đồ thưởng ngoạn của bậc tiên đế, sao là bảo vật được?

Ngữ tôi nghe bảo vật của một nước, có sáu thứ mà thôi: Bậc thánh hiền có thể đặt ra ý kiến bàn bạc muôn việc, lấy đó để phụ giúp quốc gia, thì là bảo vật vậy. Ngọc có đủ để bảo vệ che chở cho cây lúa tốt tươi, khiến cho không còn nạn hạn hán, thì là bảo vật vậy. Rùa có đủ để biết rộng được việc tốt xấu, thì là bảo vật vậy. Ngọc đủ để phòng được nạn lửa (hỏa tai) thì là bảo vật vậy. Vàng có đủ để chống được loạn binh đao, thì là bảo vật vậy. Núi rừng đầm trạch có đủ để dự sẵn liệu đến lúc dùng, thì là bảo vật vậy. Như chỉ là thứ đẹp đẽ mà hoa hoét, Sở tuy là man di, không thể cho đó là bảo vật (quý) vậy.”

Ngọc có đủ để bảo vệ che chở cho cây lúa tốt tươi, khiến cho không còn nạn hạn hán, thì là bảo vật vậy.

Nguyễn Thanh Lộc dịch

Nguồn: 傅德岷《古文觀止鑑賞》.崇文書局,2010 (Phó Đức Dân, Cổ văn quan chỉ giám thưởng, Thư cục Sùng Văn xuất bản, 2010)

DỊCH THUẬT: TỬ SẢN LUẬN DOÃN HÀ VI ẤP 子產論尹何為邑 (Tử Sản bàn về việc Doãn Hà làm ấp tể)

Tử sản luận Doãn Hà vi ấp 子產論尹何為邑 là một thiên tản văn do sử gia Tả Khưu Minh sáng tác được viết vào thời Xuân Thu in trong một tập gồm nhiều những mẫu chuyện lớn nhỏ gọi là Tả truyện 左傳. Ở đây, tác giả khai thác vấn đề dựa trên tính đạo đức chính trị. Mượn những hình tượng nhân vật, dùng những lời lẽ ngắn gọn súc tích mà diễn đạt ý nghĩa. Không chỉ thế còn sử dụng những hình ảnh ẩn dụ sinh động, lời lẽ luận chứng thuyết phục, xứng đáng là bài học cho người đời sau chiêm nghiệm và học hỏi.

Nguyên văn: 子皮欲使尹何為邑。子產曰:“少,未知可否。”子皮曰:“願,吾愛之,不吾叛也。使夫往而學焉,夫亦愈知治矣。”子產曰;“不可。人之愛人,求利之也。今吾子愛人則以政。猶未能操刀而使割也,其傷實多。子之愛人,傷之而已,其誰敢求愛於子?子於鄭國,棟也。棟折榱崩,僑將厭焉,敢不盡言?子有美錦,不使人學制焉。大官、大邑,身之所庇也,而使學者制焉。其為美錦,不亦多乎?僑聞學而後入政,未聞以政學者也。若果行此,必有所害。譬如田獵,射禦貫,則能獲禽;若未嘗登車射禦,則敗績厭覆是懼,何暇思獲?”

子皮曰:“善哉!虎不敏。吾聞君子務知大者、遠者,小人務知小者、近者。我,小人也。衣服附在吾身,我知而慎之;大官、大邑,所以庇身也,我遠而慢之。微子之言,吾不知也。他日我曰:’子為鄭國,我為吾家,以庇焉,其可也。’今而後知不足。自今請雖吾家,聽子而行。”

子產曰:“人心之不同,如其面焉。吾豈敢謂子麵如吾面乎?抑心所謂危,亦以告也。”子皮以為忠,故委政焉。子產是以能為鄭國。

Phiên âm: Tử Bì dục sử Doãn Hà vi ấp. Tử Sản viết: “Thiếu, vị tri khả phủ.” Tử Bì viết: “Nguyện, ngô ái chi, bất ngô bạn dã, sử phu vãng nhi học yên, phù diệc dũ tri trị hỹ”. Tử Sản viết: “Bất khả, nhân chi ái nhân, cầu lời chi dã. Kim ngô tử ái nhân tắc dũ chính, do vị năng thao đao nhi sử cát dã. Kỳ thương thực đa. Tử chi ái nhân, thương chi nhi dĩ. Kỳ thùy cảm cầu ái ư tử? Tử ư Trịnh quốc, đống dã. Đống chiết suy băng, kiều tương áp yên. Cảm bất tận ngôn? Tử hữu mỹ cẩn, bất sử nhân học chế yên. Đại quan đại ấp, thân chi sở tí dã, nhi sử học giả chế yên. Kỳ vi mỹ cẩm bất diệc đa hồ? Kiều văn học nhi hậu nhập chính, vị văn dĩ chính học giả dã. Nhược quả hành thử, tất hữu sở hại. Thí như điền liệp, xạ ngự quán tắc năng hoạch cầm. Nhược vị thường đăng xa xạ ngự, tắc bại tích yến phúc thị cụ, hà hạ tư hoạch?”

Tử Bì viết: “Thiện tai! Hổ bất hối. Ngô văn quân tử vụ tri đại giả viễn giả, tiểu nhân vụ tri tiểu giả cận giả. Ngã, tiểu nhân dã. Y phục phụ tại ngô thân, ngã tri nhi thận chi. Đại quan đại ấp, sở dĩ tí thân dã, ngã viễn nhi mạn chi, vi tử chi ngôn, ngô bất tri dã. Tha nhật ngã viết: Tử vi Trịnh quốc, ngã vi ngô gia, dĩ tí yên, kỳ khả dã. Kim nhi hậu tri bất túc. Tự kim thỉnh, tuy ngô gia, thính tử nhi hành”.

Tử Sản viết: “Nhân tâm chi bất đồng, như kỳ diện yên. Ngô khởi cảm vị tử diện như ngô diện hồ? Ức tâm sở vị nguy, diệc dĩ cáo dã.”

Tử Bì dĩ vi trung, cố ủy chính yên. Tử Sản thị dĩ năng vi Trịnh quốc.

Dịch nghĩa:

Tử Bì muốn cho Doãn Hà làm quan ấp. Tử Sản nói rằng: “Còn nhỏ, chưa biết có thể làm được không.” Tử Bì nói rằng: “(Doãn Hà) thực thà, trung hậu (chất phác), ta yêu mến hắn, chắc (hắn) sẽ không phản ta đâu, cứ cho hắn giữ chức để học thêm, hắn cũng sẽ dần biết được cách trị thôi”. Tử Sản nói rằng: “Không thể, người yêu người ta, cầu cái lợi cho người ta. Nay ông lại yêu người ta lại để cho hắn làm chính trị, giống như chưa thể cầm đao mà sai cho đi cắt xén vậy. Việc đó tai hại để lại thực nhiều. Ngài yêu người ta, thực ra chỉ là hại họ mà thôi. Như thế thì ai dám cầu sự yêu mến ở ngài nữa? Ngài đối với nước Trịnh, là cái rường cột (vững chắc). Cột gãy rui hỏng, Kiều tôi sẽ bị đè ép. Dám không nói hết lời sao? Ngài có một miếng gấm đẹp, không nên sai người đang học cắt xén quần áo. Quan lớn, ấp lớn, như cái thân cần được che chở vậy, mà đưa cho người mới học cắt may. Như thế làm cho miếng gấm đẹp cũng không còn nhiều giá trị nữa? Kiều tôi nghe có học thì sau đó người ta mới làm chính trị, chứ chưa từng nghe lấy việc chính trị để học cả. Như quả thực làm như thế, ắt có điều tai hại. Ví như đi săn bắn; bắn tên, đánh xe đã quen thì mới có thể bắt thú được. Như chưa từng lên xe, bắn cung mà đánh xe, thì chuốc lấy sự thất bại, tai nạn làm cho sợ hãi mà thôi, sao rảnh rỗi mà nghĩ tới việc săn bắn?”

Kiều tôi nghe có học thì sau đó người ta mới làm chính trị, chứ chưa từng nghe lấy việc chính trị để học cả.

Tử Bì nói rằng: “Tốt thay! Hổ tôi ngu dốt. Tôi nghe người quân tử chuyên tâm vào việc tìm hiểu việc lớn việc xa, kẻ tiểu nhân chỉ chăm chăm vào việc tìm hiểu cái nhỏ cái gần. Tôi quả thực là kẻ tiểu nhân vậy. Y phục vốn dĩ bám trên thân mình, tôi còn biết mà giữ gìn cẩn thận việc đó. Quan lớn, ấp lớn, là cái để che chở cho thân tôi, tôi lại tránh xa mà khinh mạn việc đó, nếu không có lời nói của ông, tôi thực không biết tới điều đó. Gặp ông trước đây, tôi có nói rằng: Ông trị nước Trịnh, tôi làm việc nhà tôi, để yên ổn thân mình, như thế thì có thể được rồi. Từ nay cho đến sau này mới thấy hiểu biết (của mình) vẫn chưa đủ. Từ nay xin ông, tuy là nhà tôi, vẫn xin nghe lời ông mà làm theo”.

Tử Sản nói rằng: “Lòng người không giống nhau, như mặt của họ vậy. Ta há dám gọi mặt ông như mặt ta sao? Nhưng mà cái mà lòng tôi cho là nguy, cũng lấy đó trình bày ngay”.

Tử Bì cho đó là trung, cho nên ủy thác chính quyền cho Sản. Tử Sản vì thế có thể làm quan coi sóc nước Trịnh vậy.

Nguyễn Thanh Lộc dịch