Ngoài “trà xanh”, giới trẻ Trung Quốc còn có loại “đũy” nào nữa?

Dịch từ bài viết trên trang: https://www.douban.com/group/topic/38004648/?_i=5339845-4YlT0M

绿茶婊 (Lục trà biểu – “Đũy” trà xanh):

名词解释:green tea bitch就是以林徽因为代表,姿色中上,以文艺女青年为伪装,通常以文艺片女演员/女记者/女主持/女作家为职业,爱发表文学艺术政治论点博得男人爱慕,四处宣扬受过情伤,咬牙坚强,QQ签名是世界上唯一一朵孤独的花之类。私生活混乱,以及有过劈腿或小三经历的成功女性~

Dịch: “Green tea bitch”, điển hình như Lâm Huy Nhân (林徽因): Ngoại hình ưa nhìn, giả vờ làm nữ thanh niên văn nghệ, thường theo nghề kiểu nữ diễn viên phim nghệ thuật/ nữ phóng viên/ người dẫn chương trình/ nữ nhà văn. Thích đăng đàn luận về văn học, nghệ thuật, chính trị để thu hút đàn ông hâm mộ. Đi đâu cũng rêu rao mình từng bị tổn thương tình cảm nhưng vẫn kiên cường… kiểu ký hiệu QQ là “đóa hoa cô độc duy nhất trên thế gian”. Đời tư hỗn loạn, thường từng cắm sừng hoặc làm “tiểu tam”, sau vẫn thành đạt.

龙井婊 (Long tỉnh biểu – “Đũy” Long Tỉnh)

大大咧咧的,和男生称兄道弟,大声嬉闹,烟酒纹身,偶尔露出阴柔和文艺的一面那种女子,她们在男生女生群中人缘都很好,人也大方仗义。这种姑娘,长年饥渴,喝点酒就往兄弟身上蹭,艹完他还能和你继续当兄弟。

Dịch: Kiểu con gái bộc tuệch, chơi thân với đám con trai như anh em, thường nói cười to tiếng, hút thuốc, uống rượu, xăm mình, thi thoảng lại lộ ra nét nữ tính văn nghệ. Trong nhóm nam nữ đều được mến, hào sảng nghĩa khí. Gái kiểu này lúc nào cũng “khát”, uống tí rượu là bắt đầu sáp vào người anh em, ngủ xong vẫn coi nhau như huynh đệ tiếp.

奶茶婊 (Nãi trà biểu – “Đũy” trà sữa)

长相甜美,看上去弱不禁风,说话嗲嗲的,吃的都是高档零食,对谁都是甜甜的,都知道她的逼是给高富帅们艹的,可还是备胎无数。不冷高,自己拧不开可乐瓶盖,朋友是比她丑好多的,但性格开朗的女生。这便于她接触到更多的男性。追她的男生送的东西全收,但从不答应,也从不拒绝。

Dịch: Ngoại hình ngọt ngào, nhìn yếu đuối dịu dàng, giọng nói nũng nịu. Toàn ăn đồ đắt tiền, ai cũng được cô ấy “ngọt ngào” như nhau. Ai cũng biết “cái loz” của cô chỉ dành cho “đại gia đẹp trai có tiền” “địu”, nhưng dàn “dự bị” vẫn đông nghịt. Không tỏ ra lạnh lùng cũng chẳng nhiệt tình, chai nước coca cũng giả vờ không mở nổi. Bạn thân thường xấu hơn cô ta nhiều – tiện cho việc tiếp cận thêm nhiều đàn ông. Quà của người theo đuổi thì nhận sạch, không đồng ý cũng không từ chối.

茶水婊 (Trà thủy biểu – “Đũy” nước trà)

戏子一般的女人,在哪儿都得演一出。在同事跟前:诶,你这件衣服哪买的吖?多少钱?有没有小几码的?我想买一件。在老板面前:你看她,想勾搭谁呀,穿的没个上班的样。在朋友面前:看我刚买的鞋子,好看吗?2000多,也不算特别贵。在镜子面前都演得像个现代富婆好把自己骗过去,然后去楼下吃个兰州拉面。

Dịch: Loại đàn bà “diễn xuất” như minh tinh. Trước mặt đồng nghiệp thì kiểu: “Ê cái váy đó mua đâu thế, có size nhỏ hơn không? Tôi muốn mua 1 cái”. Nhưng trước mặt sếp lại nói: Ông xem cô ta kìa, muốn câu dẫn ai thế, mặc đồ chả ra dáng đi làm. Với bạn bè: “Mới mua đôi giày 2000 tệ, cũng không đắt lắm”… Trước gương thì diễn vai quý bà sang chảnh để tự lừa mình, nhưng thực ra sau đó xuống lầu ăn bát mì kéo Lan Châu.

羊杂汤婊 (Dương tạp thang biểu – “Đũy” soup lòng cừu)

外向,热爱生活,随性,喜欢自黑,其实非常自恋。善于在平凡的事物中发现亮点,思想上独立,不盲从,可惜有时候不得不妥协于世俗,多为烟民。时而随和,时而冷高,这种婊是介于屌丝和高富帅之间的矛盾体,且多为男性。

Dịch: Hướng ngoại, yêu đời, tùy hứng, thích tự “dìm hàng” bản thân nhưng cực kỳ tự luyến. Giỏi tìm ra điều thú vị từ cái tầm thường, tư duy độc lập, không chạy theo đám đông nhưng đôi khi vẫn phải thỏa hiệp với thế tục. Thường là dân hút thuốc. Lúc thì thân thiện, lúc thì lạnh lùng. Kiểu “đũy” nằm giữa dạng “dở người như c*c” với “cao – giàu – đẹp” và nhiều khi chính là… đàn ông.

菊花婊 (Cúc hoa biểu – “Đũy” hoa cúc)

身上香香的,仿佛有一种与生俱来的亲和力,似乎是人畜无害。其实为了达到自己的目的能够费尽心机,机关算尽,不惜出卖身体和大量时间去获得更高的地位或更大的权力。这种人对朋友不错,抢男人一绝,在生活中就是那种“办事能力强”,“很会来事儿”的人。这种菊花婊,小受和娘炮也很多。

Dịch: Người lúc nào cũng thơm phức, có sự thân thiện trời sinh, trông như “hiền lành vô hại”. Nhưng vì mục tiêu bản thân mà không từ thủ đoạn, thậm chí đem thân xác và thời gian ra để đạt được địa vị, quyền lực lớn hơn. Đối xử tốt với bạn bè, giật trai thì khỏi bàn, trong đời thường thuộc nhóm “làm việc hiệu quả, biết đối nhân xử thế”. Kiểu này trong giới “thụ” hoặc “ẻo lả” (gay) cũng cực nhiều.

地沟油婊 (Địa câu do biểu – “Đũy”  dầu cặn, dầu mỡ thu hồi từ hệ thống cống rãnh)

相貌0~10分不等,一般打扮随性,好路边摊,喜重口味,说起黄段子眉飞色舞,毛片知识比一般男人专业,熟络后口无遮拦,无论男女皆以基友相称,互传资源美名曰学术交流,色狼大喜,以为其对自己性暗示,遂约炮,被地沟油婊恐吓菊花不保。百分百不给操,负一万分 。

Dch: Ngoại hình từ 0–10 điểm, ăn mặc tùy tiện, thích quán lề đường, khẩu vị nặng. Kể chuyện bậy bạ thì mặt mày hớn hở, kiến thức phim sex hơn cả đàn ông. Thân rồi thì nói năng không kiêng nể, ai cũng gọi là “bạn cờ hó”, trao đổi “tài nguyên” sex gọi là “nghiên cứu học thuật”. Đám dê già hiểu nhầm coi là “bật đèn xanh”, muốn rủ đi ngủ, kết quả bị đe dọa “bảo đảm nở hoa hậu môn”, tuyệt đối không cho đụng – điểm âm vô cực.

红茶婊 (Hồng trà biểu – “Đũy” hồng trà)

是那种抽烟喝酒眼线夸张爱露乳沟打扮的很骚,但她的朋友们都知道她其实不是那种随便的姑娘,但她实际上就是那种随便的姑娘的婊子? 是欧美最新爆款风,叼烟讲理到处疯,嘴上说爱情至上,转眼宝马随老翁。

Dịch: Hút thuốc, uống rượu, kẻ mắt đậm, khoe khe ngực, nhìn thì lẳng lơ lòe loẹt – nhưng bạn bè đều biết rằng “cô ấy không phải loại dễ dãi”… nhưng thật ra chính là loại dễ dãi. Phong cách mới hot ở Âu – Mỹ: ngậm thuốc, nói lý, chơi bời khắp nơi, miệng thì nói “tình yêu trên hết”, quay lưng đã leo lên BMW với ông già nhiều tiền.

观音婊  (Quan âm biểu – “Đũy” trà Quan Âm)

那还有表面冷情冷性,对男生女生都掏不出来,看似蔑视一切男女众生,整天喊着情侣去死去死,其实一有男的靠近就恨不得躺平分开双腿的草

Dịch: Bề ngoài lạnh nhạt, dửng dưng, như coi thường tất cả đàn ông đàn bà, ngày ngày miệng nói “tụi yêu đương chết đi”. Nhưng hễ có trai lại gần là lập tức nằm ra, mở chân, dành hết “từ bi” cho họ.

咖啡婊  (Cà phi biểu – “Đũy” cafe)

外表知性,举止优雅,芳香四溢,让闻到的男人都想一亲芳泽。可味道是甜是苦,就只有喝的那个人才知道了。永远不知道拒绝,越多人欣赏她越好,周旋于优质男人之间,外表温馨,内里腹黑,用小资掩饰虚荣。总之,没有钱,别想操。

Dịch: Ngoài nhìn tri thức, phong thái tao nhã, hương thơm quyến rũ làm đàn ông nào cũng muốn nếm thử. Nhưng nó ngọt hay đắng thì chỉ kẻ từng “uống” mới biết. Tuyệt đối không biết từ chối, càng nhiều đàn ông ngưỡng mộ càng tốt. Quay quanh toàn “trai chất lượng”. Ngoài thì ấm áp nhỏ nhẹ, bên trong bụng dạ đen tối, dùng phong cách “tiểu tư sản” để che đậy sự hư vinh. Tóm lại: Không có tiền thì đừng mơ ngủ với cô ta.

普洱婊 (Phổ Nhĩ biểu – “Đũy” Phổ Nhĩ)

这种婊长得好看,智商偏低,她在上学时一心只读圣贤书,两耳不闻天下事。处男方大同说过,他会喝白开水来平息欲望。这种婊同理,她毕业后当了白领,有一天,她顿悟了,突然体会到了做女人的乐趣,她会倾尽所有可能把之前二十几年欠下的一水库水一口气喝个大半。这种人身体和心理至少一处有病。

Dịch: Ngoại hình đẹp, IQ thấp. Hồi đi học chỉ biết cắm đầu vào sách, không quan tâm đời. Giống trai tân Phương Đại Đồng từng nói uống nước sôi để nguội để dập ham muốn. Cô ta cũng thế. Nhưng sau khi đi làm trở thành “white collar”, một ngày nọ “ngộ ra”, bỗng phát hiện ra “làm phụ nữ cũng vui đấy”. Thế là điên cuồng bù đắp cả “kho nước” thiếu hụt hơn hai mươi năm trước đó trong một lần. Người như vậy thân thể hoặc tâm lý chắc chắn có chỗ nào bị “bệnh”.

Môn đương (môn đăng) hộ đối “門當戶對” [Giản thể: 门当户对] là gì?

Nguyễn Thanh Lộc

Thành ngữ này ban đầu chẳng liên quan gì đến chuyện hôn nhân cả, mà là chuyện xây nhà thời xưa. “門當” và “戶對” vốn dĩ là hai bộ phận kiến trúc quan trọng ở cổng chính của các ngôi nhà cổ. Chúng vừa là vật trang trí kiến trúc, vừa là biểu tượng cho thân phận, địa vị của chủ nhà. Chính vì vậy, về sau mới dần dần phát triển thành cách nói quen thuộc “môn đăng hộ đối” khi bàn về chuyện cưới hỏi.

“門當” (Môn đăng/ đương) ban đầu chỉ cặp trụ đá hoặc trống đá hình dẹt đặt đối xứng hai bên cửa chính. Người xưa dùng trống đá vì tin rằng tiếng trống vang dội, uy nghiêm như sấm sét có thể trừ tà, nên rất được ưa chuộng. Sau này, “môn đăng” dần dần biến thành những vật trang trí như tượng sư tử đá. Về hình dạng, “môn đăng” có thể là hình tròn hoặc hình vuông. Nhà nào có “môn đăng” thì nhất định phải có “hộ đối”, vì đây là nguyên lý thẩm mỹ hài hòa trong kiến trúc.

Vậy “戶對” (hộ đối) là gì? Ngày nay, ta có thể hiểu nó là kết cấu, phong cách của một gia đình, hay chính là thế giới quan, giá trị quan của họ. Giống như xưa kia, nhà quan văn thì “hộ đối” là hình tròn, nhà quan võ thì là hình vuông, trên đó thường khắc họa các hình ảnh tượng trưng cho thân phận chủ nhà.

“Hộ đối” là các trụ gỗ hoặc gạch chạm khắc, đặt ở phía trên hoặc hai bên cửa chính, thường là số chẵn – có một đôi (hai cái) hoặc hai đôi (bốn cái), nên được gọi là “hộ đối”. Kích thước và số lượng “hộ đối” tỉ lệ thuận với phẩm hàm quan chức của chủ nhà: tròn là văn, vuông là võ, càng nhiều chứng tỏ chức quan càng cao.

Nếu là trụ gỗ thì nằm ngang phía trên khung cửa chính, hình trụ ngắn, dài chừng một thước, đặt song song mặt đất và vuông góc với khung cửa. Nếu là gạch chạm khắc thì thường đặt ở hai bên cửa, với họa tiết là linh thú, chim quý tượng trưng cho điềm lành.

Ngày nay, do quá trình đô thị hóa nhanh chóng, những kiến trúc nhà cổ dần mai một. Nhận thức của người dân về “môn đăng hộ đối” cũng ngày một trở nên trừu tượng, nhiều người dần quên mất nguồn gốc và câu chuyện phía sau.

Khi chúng ta bình luận về hôn nhân, thường hay dùng thành ngữ “門當戶對”, ý nói đôi bên nam nữ – từ điều kiện kinh tế, địa vị xã hội, ngoại hình đến xuất thân gia đình – đều tương xứng, phù hợp để kết hôn.

Trên “môn đăng” và “hộ đối” thường có chạm khắc phù hợp với thân phận chủ nhà, kích cỡ và số lượng của chúng cũng phản ánh mức độ giàu có, quyền thế. Vì thế, ngoài tác dụng trấn trạch và trang trí, chúng còn là biểu tượng của thân phận, địa vị, và gia cảnh.

Tương truyền, thời xưa, trước khi quyết định chuyện cưới hỏi cho con cái, người ta thường phái người đến ngầm quan sát “môn đăng” và “hộ đối” của nhà đối phương. Do đó, “門當戶對” trở thành tiêu chuẩn và cách nói thông dụng khi đánh giá việc hôn phối giữa nam nữ.

Vậy, tại sao một nguyên lý thẩm mỹ kiến trúc lại trở thành tiêu chuẩn xem xét hôn nhân trong xã hội Trung Hoa? Bởi vì, chuyện cưới xin của người Trung Quốc luôn gắn chặt với “nhà cửa”. Xưa đã vậy, nay cũng chẳng khác mấy. Không thế thì sao lại có chuyện: “Chàng trai không có nhà thì mẹ vợ không gả con gái”? Không thế thì sao khi luật hôn nhân sửa đổi, nam mua nhà nhưng không để tên nữ thì người ta lại không vui?

Xét cho cùng, việc coi trọng “môn đăng hộ đối” trong hôn nhân thời xưa là một cách điều tiết xã hội rất hiệu quả, giúp giữ gìn ổn định cho gia đình. Nếu gia đình bên gái ngang hàng với bên trai, thì khi xảy ra chuyện, nhà gái cũng có thể đòi lại công bằng. Ngược lại, nếu bên nữ quá mạnh, thì cũng tránh tình trạng người con gái ức hiếp chàng trai nghèo, đẩy họ đến đường cùng sinh chuyện bi kịch.

Tóm lại, “môn đăng hộ đối” thời xưa và thời nay tuy có cùng tên nhưng khác nhau rõ rệt. Hôn nhân cổ đại dựa vào “lệnh cha mẹ, lời mai mối” (父母之命,媒妁之言 – Phụ mẫu chi mệnh, mối ước chi ngôn), không phải vì yêu mà cưới, mà là vì địa vị và mối quan hệ giữa hai gia tộc, đặc biệt là ở tầng lớp thượng lưu, nơi hôn nhân thường ẩn chứa yếu tố chính trị.

Võ Tắc Thiên và Tắc Thiên tân tự “則天新字”

Nguyễn Thanh Lộc tuyển dịch từ nguồn https://baike.baidu.com/item/则天文字/2589771

Trong dòng chảy lịch sử Trung Hoa rực rỡ và lâu dài, Võ Tắc Thiên nổi tiếng là nữ hoàng duy nhất được sử sách chính thống công nhận. Trong thời kỳ nắm quyền và xưng đế, bà đã thể hiện tài năng chính trị xuất sắc, cải cách thể chế, khởi đầu thời kỳ huy hoàng cùng các vị vua nhà Đường trước đó. Như nhà văn Quách Mạt Nhược từng ca ngợi: “Chính khai Khai Nguyên, trị thịnh Trinh Quán, hương thơm truyền Kiếm Các, ánh sáng phủ Lợi Châu.”

Tuy nhiên, Võ Tắc Thiên không hài lòng với vai trò nhiếp chính, mà mong muốn thay thế nhà Đường, lập nên triều đại Võ Chu, phá bỏ mô hình trọng nam khinh nữ nghìn năm, nên tất nhiên gặp phải sự chống đối chính trị rất lớn. Để chứng minh tính chính danh, bà đã:

+ Dựa vào truyền thuyết như “Hà đồ Lạc thư” và tôn sùng Phật giáo, khẳng định thiên mệnh. Đồng thời tiến hành một loạt cải cách thể chế như: Năm 684, đổi tên Đông Đô Lạc Dương thành Thần Đô; Đổi tên các cơ quan nhà Đường: Thượng thư đài 尚書台 thành Văn Xương đài 文昌台, Môn Hạ tỉnh 門下省 thành Loan đài 鸞台, Trung thư tỉnh 中書省 thành Phụng Đài 鳳閣 v.v…

+ Các bộ “Hi Bình thạch kinh” 熹平石经 (Kinh văn đá Hi Bình) thời Hán và “Tam thể thạch kinh” 三体石经 (Kinh văn đá Tam thể) thời Tào Ngụy đều xem việc thống nhất chữ viết và quy định khuôn mẫu tư tưởng học thuật là công việc vô cùng quan trọng. Võ Tắc Thiên cũng không ngoại lệ. Bà tin rằng chữ viết có sức mạnh chi phối tư tưởng, nên để tiến hành cải cách văn hóa, bà đã tự sáng tạo một số chữ mới, thay thế chữ cũ, nhằm thực hiện chủ trương “trừ cũ lập mới”.

Thực chất, việc tạo chữ này còn mang màu sắc thần thoại, mê tín và yếu tố ngu dân. Theo chiếu thư mà Võ Hậu ban hành – “Cải nguyên tái sơ xá” 改元载初赦 có viết: “上有依于古體,下有改于新文” [Thượng hữu y ư cổ thể, Hạ hữu cải ư tân văn – (Chữ của Võ Tắc Thiên) trên dựa theo thể cổ, dưới lại cải biến thành chữ mới.] Điều đó cho thấy, chữ do Võ Tắc Thiên tạo ra không phải là bịa đặt vô căn cứ, mà có cơ sở từ các thể chữ cổ truyền.

Năm 688 (năm Thùy Củng thứ 4), bà phong cha mẹ làm Thái hoàng – Thái hậu, nâng tộc họ Võ. Đến năm 689 (năm Vĩnh Xương nguyên niên), bà đổi niên hiệu thành Tải Sơ, ban hành chiếu chỉ sử dụng lịch Chu, đổi tên tháng và lễ tiết. Vào ngày Nhâm Ngọ tháng 7 năm Vĩnh Xương nguyên niên (năm 689), sau khi bản “Chú giải Kinh Đại Vân” hoàn thành và được dâng lên triều đình, rất được Võ Tắc Thiên yêu thích. Đồng thời, bà mời cao tăng giảng giải với quần chúng, tuyên truyền lời tiên tri trong kinh:

“佛遣凈光仙女到震旦王國土事” [Phật khiển Tịnh Quang tiên nữ đáo Chấn Đán vương quốc thổ sự – Phật phái tiên nữ Tịnh Quang giáng sinh tại quốc thổ Chấn Đán (tức Trung Hoa).]

Tất cả các chùa đổi tên thành “Đại Vân Tự”, mục đích là để chứng minh tính hợp pháp cho việc nữ hoàng thay thế nhà Đường, dựng lý thuyết cho việc nữ giới xưng đế.

Bà liền ban hành 12 chữ mới đầu tiên vào tháng Giêng niên hiệu Tải Sơ (tức tháng 11 năm Vĩnh Xương), cho thay thế chữ cũ trong văn bản kinh điển, phổ biến trên toàn quốc, gọi là “Tắc Thiên văn tự” 則天文字, như các chữ  “Chiếu 曌、Thiên 天 [𠀑]、Địa 地 []、Nhật 日 [𡆠]、Nguyệt 月 [⿴〇卐]、Tinh 星 []、Quân 君 [𠺞]、Thần 臣 [𢘑]、Sơ 初 [𡔈]、Tái 载 [𡕀]、Niên 年 [𠡦]、Chinh 正 [𠙺]” — 12 chữ đầu tiên. Những chữ này thể hiện khát vọng “đổi mới toàn diện”, giống như việc các vua chúa xưa từng đổi niên hiệu – lập lễ nhạc – thống nhất tư tưởng khi lên ngôi.

Theo khảo cứu của học giả Sử An Xương, thì:

+ Ban đầu: có 12 chữ (từ “新唐書” và “大詔令集” xác nhận).

+ Sau đó thêm: “Thụ 授 [𥠢]、Chứng 證 [𤪉]、Thánh 聖 [𨲢]、Quốc 國 []、Nhân 人 [𤯔]”  →  thành 17 chữ.

+ Lại thêm một dị thể chữ  Nguyệt “月” [𠥱] → tổng cộng 18 chữ → gọi là thuyết “十八字说” – quan điểm chính thống hiện nay.

Học giả hiện đại Hoàng Hy Bình cho rằng có 23 chữ, còn làm thơ để ghi nhớ: “照國年天授,載初吹聖人。君臣證世正,地戴日月星。” (Chiếu quốc niên thiên thụ, tải sơ xuy thánh nhân. Quân thần chứng thế chính, địa đái nhật nguyệt tinh)

Đặc biệt, chữ 卍 (đọc là “vạn”) cũng được coi là một chữ mới do Võ hậu tạo ra, mang ý nghĩa cát tường, nhưng sau này bị hiểu nhầm do giống biểu tượng phát xít “卐”.

Không phải Võ Tắc Thiên tự tay sáng chế mà do các học sĩ như Tông Tần Khách và quan lại dâng lên.

Chữ phần lớn là chữ hội ý hoặc tượng hình, ví dụ:

+  “证”  [𤪉] = Vĩnh 永 + Chủ 主 + Nhân 人 + Vương 王: Mang ý nghĩa “vĩnh viễn làm chủ toàn thiên hạ”, thể hiện lời cầu chúc cho bản thân được an khang trường thọ; Võ Tắc Thiên dùng tổ hợp “永主王人” để thông báo với thiên hạ rằng:
“Ta là người vĩnh viễn làm chủ, là thiên tử chính thống”, qua đó khẳng định ngôi vị của bà là do trời ban, mãi mãi không thể lay chuyển.

+  “年” [𠡦]  = Thiên 千 + thiên 千 + vạn 万 +  vạn 万: Hàm chứa ý nghĩa cát tường của triều Võ Chu như: “Thiên thụ vạn niên” (trời ban cho muôn năm), “Thiên thu vạn tuế” (nghìn thu vạn tuổi). Tuy nhiên, trong quá trình viết tay, hai chữ “万” phía trên thường bị viết nhầm thành “刀” (dao) hoặc “力” (sức lực). Chữ này là một dạng biến thể từ thể chữ “Tiểu triện” cổ, được chỉnh sửa tạo thành.

+  “臣” [𢘑] = Nhất 一 + Trung 忠: Mang hàm ý tốt đẹp: Thể hiện khát vọng mọi bề tôi trong thiên hạ đều một lòng trung thành với quân vương. Đoàn Ngọc Tài trong chú giải “Thuyết văn giải tự” cũng từng khẳng định chữ này xuất hiện trước cả thời Võ Tắc Thiên. Điều này cho thấy: “𢘑(⿱一忠)” vốn là chữ cổ, không phải là sáng tạo độc quyền của Võ Tắc Thiên, mà bà chỉ “tái sử dụng” một hình thể chữ cổ cho mục đích chính trị.

+  “聖”  [𨲢] = Trường 長 + Chính 正 + Chủ 主: Võ Tắc Thiên tự cho mình là chính thống, nên đã lấy các yếu tố “𠙺” (tức chữ “正” – chính), “主” (chủ), và “長” (lâu dài) để ghép thành chữ “聖” (thánh). Chữ này tượng trưng rằng nữ hoàng Võ Tắc Thiên là vị thánh quân – người cai trị chính thống và lâu dài trên thiên hạ. Chữ hàm chứa ý nghĩa “lâu dài làm vua”, rằng chỉ có thánh nhân mới có thể giữ ngôi chính thống mãi mãi….

Một số chữ phá vỡ cấu trúc vuông truyền thống của Hán tự, ví dụ:

+ Dùng vòng tròn “〇” biểu thị mặt trời, mặt trăng, ngôi sao.

+ Chữ “人” tạo từ “一生” xếp dọc.

+ Chữ “国”là chữ  “八方” chồng lên nhau trong khung hình vuông, tượng trưng “tám phương quy tụ”.

Thông qua Phật giáo và kinh văn, chữ Võ hậu lan rộng khắp Trung Hoa và các vùng chịu ảnh hưởng của nhà Đường. Tại quốc gia Nam Chiếu (Tây Nam Trung Quốc) – vùng Vân Nam ngày nay – còn dùng chữ Võ hậu trong văn bia “Vương Nhân Cầu”. Một số chữ mới như “天”, “地”, “日”, “月”, “国”, “聖” còn truyền sang Nhật, Triều Tiên, Hàn Quốc. Ví dụ: Nhật Bản yêu thích chữ “圀” – dùng trong tên của 徳川光圀 (Đức Xuyên Quang Quốc) thời Edo. Hàn Quốc (Gyeongju, chùa Bulguksa) phát hiện chữ “地”, “授”, “初”, “正” trong bản khắc kinh thời Đường.

徳川光圀 (Đức Xuyên Quang Quốc)

Dù từng phổ biến rộng, nhưng sau khi Võ hậu qua đời, một số người (như quyền thần Quyền Nhược Nặc) đề nghị giữ chữ mới, và Đường Trung Tông tạm giữ lại. Nhưng đến năm 837 (Đường Văn Tông – Khai Thành năm thứ 2), triều đình ra chiếu chính thức bãi bỏ chữ mới, quay về chữ gốc. Khi ấy, ngay cả học giả đời Tống cũng khó hiểu và phân biệt chính xác những chữ này. Mặc dù bị bãi bỏ, song trong nội địa vẫn còn chữ “曌” (tên riêng của Võ hậu) tiếp tục được sử dụng. Hay tại Vân Nam, Đại Lý (Tây Nam), những chữ này vẫn được dùng tới tận thời Nguyên, thể hiện ảnh hưởng văn hoá sâu rộng.

Học giả Tề Nguyên Đào nhận định: “Chữ mới thời Võ Chu chủ yếu dùng cấu trúc hội ý cổ, không phù hợp hệ thống chữ hình thanh thống trị thời Đường. Do đó, nó đi ngược xu thế phát triển và khó được chấp nhận.” Tóm lại, tuy mang ý nghĩa chính trị – văn hoá sâu sắc, nhưng do cồng kềnh, lỗi thời, không thuận tiện cho sử dụng, nên việc thất bại là kết quả tất yếu trong lịch sử phát triển chữ Hán.

HỌA LẠI BÀI “PHẢN CHIÊU HỒN” VỚI TÊN “TỤC PHẢN CHIÊU HỒN” 續反招魂 – Nguyễn Thanh Lộc

Mấy ngày rày rảnh rỗi ngồi lôi sách vở ra nhâm nhi, ngẫm đời nay giờ chẳng khác gì mấy so với thời Nguyễn Du, ngẫm xong đọc Phản chiêu hồn của ông, lại càng thấy quá đúng thay! Nay mình mạn phép xin họa lại bài Phản chiêu hồn của Nguyễn Du như khi xưa Nguyễn Du đối lại bài Chiêu hồn của Tống Ngọc khi gọi hồn Khuất Nguyên về.

NGUYÊN VĂN BÀI “PHẢN CHIÊU HỒN” 反招魂:

魂兮!魂兮!胡不歸,

東西南北無所依。

上天下地皆不可,

鄢郢 [1] 城中來何為。

城郭猶是人民非,

塵埃滾滾汙人衣。

出者驅車入踞坐,

坐談立議皆皋夔 [2]。

不露爪牙與角毒,

咬嚼人肉甘如飴。

君不見湖南數百州,

只有瘦瘠無充肥。

魂兮!魂兮!率此道,

三皇 [3] 之後非其時。

早斂精神返太極 [4],

慎勿再返令人嗤。

後世人人皆上官 [5],

大地處處皆汨羅 [6]。

魚龍不食豺虎食,

魂兮!魂兮!奈魂何。

Phản chiêu hồn

Hồn hề! Hồn hề! Hồ bất quy?

Đông tây nam bắc vô sở y.

Thướng thiên há địa giai bất khả,

Yên, Dĩnh thành trung lai hà vi?

Thành quách do thị, nhân dân phi,

Trần ai cổn cổn ô nhân y.

Xuất giả khu xa, nhập cứ toạ,

Toạ đàm lập nghị giai Cao, Quỳ.

Bất lộ trảo nha dữ giác độc,

Giảo tước nhân nhục cam như di!

Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu,

Chỉ hữu sấu tích, vô sung phì.

Hồn hề! hồn hề! suất thử đạo

Tam Hoàng chi hậu phi kỳ thì.

Tảo liễm tinh thần phản thái cực,

Thận vật tái phản linh nhân xi,

Hậu thế nhân nhân giai Thượng Quan

Đại địa xứ xứ giai Mịch La,

Ngư long bất thực, sài hổ thực,

Hồn hề! hồn hề! nại hồn hà?

Dịch nghĩa

Hồn ơi! hồn ơi! sao chẳng về?

Đông tây nam bắc không chốn nương tựa

Lên trời xuống đất đều không được

Còn trở về thành Yên thành Sính làm gì?

Thành quách còn đây, nhân dân đã khác

Bụi bặm mù bay làm dơ bẩn quần áo

Ra ngoài thì ruổi xe, vào nhà ngồi chễm chệ

Đứng ngồi bàn bạc như hai bậc hiền thần Cao, Quỳ

Không để lộ ra nanh vuốt nọc độc

Mà cắn xé thịt người ngọt xớt

Không thấy sao mấy trăm châu ở Hồ Nam

Chỉ có người gầy gò, không ai béo tốt

Hồn ơi! hồn ơi! nếu cứ noi theo lối đó

Thì sau Tam Hoàng không hợp thời nữa

Hãy sớm thu góp tinh thần trở lại Thái Cực

Đừng trở lại đây nữa để người ta mai mỉa

Đời sau đều là Thượng Quan

Khắp mặt đất đều là sông Mịch La

Cá rồng không ăn, sói hùm cũng nuốt

Hồn ơi! hồn ơi! hồn làm sao đây?

HỌA LẠI BÀI “PHẢN CHIÊU HỒN” VỚI TÊN “TỤC PHẢN CHIÊU HỒN” 續反招魂:

魂兮!魂兮!莫顧回,

乾坤離坎穨不恢。

四海萬邦燬匪救,

鄢郢城猶競猛魋。

市舖人鬼同爭路,

群魔亂舞笑天扃。

入市操權出譏誚,

高談闊論盡狼豺。

面善心蛇藏劍匕,

嘬髏飲血若醍醐 [7]。

君莫問九州千萬戶,

老稚餓眠只藜萊。

魂兮!魂兮!歸太初 [8],

堯舜之後無之才。

迅攝靈根返玄陛 [9],

莫戀塵途遭世咍。

卿宰人人皆癡士,

才賢子子盡投垓。

猰貐 [10] 窮奇 [11] 化人樣,

魂兮!魂兮!汝將回?

Phiên âm:

Hồn hề! Hồn hề! Mạc cố hồi,

Càn khôn ly khảm đồi bất khôi.

Tứ hải vạn bang huỷ phỉ cứu,

Yên Dĩnh thành do cạnh mãnh đồi.

Thị phô nhân quỷ đồng tranh lộ,

Quần ma loạn vũ tiếu thiên côi.

Nhập thị thao quyền xuất cơ tiếu,

Cao đàm khoát luận tận lang sài.

Diện thiện tâm xà tàng kiếm chuỷ,

Toát lâu ẩm huyết nhược thể hồ.

Quân mạc vấn cửu châu thiên vạn hộ,

Lão trĩ ngã miên chỉ lê lai.

Hồn hề! Hồn hề! Quy thái sơ,

Nghiêu thuấn chi hậu vô chi tài.

Tấn nhiếp linh căn phản huyền bệ,

Mạc luyến trần đồ tao thế hải.

Khanh tể nhân nhân giai si sĩ,

Tài hiền tử tử tận đầu cai.

Khiết Dũ Cùng Kỳ hoá nhân dạng,

Hồn hề! Hồn hề! Nhữ tương hồi?

Dịch nghĩa:

Hồn ơi! Hồn ơi! Chớ quay đầu,

Càn khôn ly khảm bại hoại chẳng thể khôi phục.

Bốn bể muôn nước cháy rụi không thể khôi phục,

Thành Dĩnh thành Yên vẫn còn những kẻ tranh nhau phá hoại.

Phố sa người quỷ cùng một đường tranh nhau,

Ma quỷ loạn vũ, cười cửa trời.

Vào chợ giành quyền nói lời bỡn cợt,

Nói lớn bàn xa, nhưng toàn sói dữ giả dạng hiền.

Mặt hiền mà tâm rắn, giấu gươm trong áo,

Mút xương uống máu ngọt như sữa trời.

Ngài chớ hỏi việc nghìn vạn nhà trong chín châu này nữa,

Già trẻ đói nằm, chỉ rau dại mà thôi.

Hồn ơi! Hồn ơi! Mau về Thái Sơ,

Sau Nghiêu Thuấn chẳng còn ai là người tài nữa.

Nhanh thu linh khí, quay về đài Huyền,

Chớ luyến bụi trần, để thế tục chê bai.

Quan lớn khắp nơi toàn kẻ ngốc nghếch,

Hiền tài ngày nay đều bị vứt ra ngoài cõi xa xôi.

Khiết Dũ, Cùng Kỳ giờ hóa nhân dạng,

Hồn ơi! Hồn ơi! Người sẽ quay lại?

Chú thích:

[1] Yên, Dĩnh (hay Sính): Yên thuộc đất Sở, Dĩnh là kinh đô nước Sở, cả hai đều thuộc tỉnh Hồ Bắc 湖北.

[2] Cao, Quỳ: hai vị quan giỏi đời Ngu Thuấn 虞舜.

[3] Theo thuyết đây là ba vị vua cổ nhất của Trung Quốc, đó là Phục Hy 伏羲, Thần Nông, Hoàng Đế.

[4] Thái cực: Cõi hư vô.

[5] Tức Thượng quan Ngân Thượng là kẻ gièm pha để Sở Hoài Vương 楚懷王 ruồng bỏ Khuất Nguyên 屈原.

[6] Khúc sông hợp lưu của hai sông Mịch và La. Nay ở phía bắc huyện Tương Âm 湘陰, tỉnh Hồ Nam 湖南. Sau người ta còn gọi là Khuất Đàm (vì Khuất Nguyên tự trầm ở đây).

[7] Một thứ mỡ sữa đông đặc, vị rất nồng đậm. Cho nên được nghe đạo thiết yếu gọi là “quán đính đề hồ” 灌頂醍醐 (chữ kinh Phật). Cũng dùng để ví dụ với trí tuệ của Phật pháp, tinh hoa của đạo Phật.

[8] Thái sơ: Tương đương như Thái cực

[9] Huyền bệ: Như Huyền đài, chỉ Thái cực, nơi Hư vô

[10] Khiết dũ: Một giống thú hung dữ trong sách cổ

[11] Cùng Kì: Một quái thú khuyến khích người làm điều ác. Tương truyền, nếu phạm phải điều ác, Cùng Kỳ sẽ đem xác dã thú đến tặng ác nhân như một lời khen thưởng khuyến khích họ làm nhiều điều ác hơn.

Dịch truyện cổ tích “Của thiên trả địa” sang cổ văn với tên “Thiên Địa truyện” 天地傳 (Có kèm lời bàn)

Của thiên trả địa – 天地傳 [Thiên địa truyện]

  • Nguyễn Thanh Lộc dịch

昔有二人,同村為鄰。一名曰天,一名曰地。两皆孤貧無依,鬻力為生。天慧而警敏,地誠而厚道。

Phiên âm: Tích hữu nhị nhân, đồng thôn vi lân. Nhất danh viết thiên, nhất danh viết địa. Lưỡng giai cô bần vô y, chúc lực vi sinh. Thiên tuệ nhi cảnh mẫn, Địa thành nhi hậu đạo.

Ngày xưa, có hai anh chàng, là hàng xóm cùng ở một làng. Một người tên Thiên, một người tên Địa. Họ giống nhau ở chỗ anh nào anh ấy đều nghèo rớt mùng tơi và đều mồ côi cha mẹ. Nhưng Thiên rất sáng dạ, bảo gì hiểu nấy, Địa thành thực và trọng tình nghĩa.

一日,地語天曰:「吾輩甕牖繩樞,倘無轉機,恐終生潦倒。子天資穎異,若得習業,必登科第。自今而後,子專心讀書,吾代子服勞,以資膳食。功成名遂,願與共富貴。」天唯唯而應,地復囑曰:「達則勿忘儂!」

Phiên âm: Nhất nhật, địa ngữ thiên viết: “Ngô bối ung dũ thằng xu, thảng vô chuyển cơ, khủng chung sinh lạo đảo. Tử thiên tư dĩnh dị, nhược đắc tập nghiệp, tất đăng khoa đệ. Tự kim nhi hậu, tử chuyên tâm độc thư, ngô đại tử phục lao, dĩ tư thiện thực. Công thành danh toại, nguyện dữ cộng phú quý.” Thiên duy duy nhi ưng, địa phục chúc viết: “Đạt tắc vật vong nùng!”

Một hôm Địa bảo rằng: “Hai ta nghèo rớt mồng tơi, nếu không làm gì đổi đời thì không biết bao giờ mới cất đầu lên được. Sẵn anh là người có khiếu thông minh, nếu được học hành chắc ngày sau sẽ thi đậu làm quan to. Vậy từ nay anh hãy chăm chỉ học hành, tôi sẽ cố sức làm thêm để lấy tiền nuôi anh ăn học. Lúc nào anh làm nên, đôi ta sẽ chung hưởng phú quý.” Thiên nhận lời nhưng Địa còn dặn: “Lúc nào hiển đạt anh đừng có quên tôi nhé!”

地遂晝耕夜耠,宧天寒窗。見天日進於學,地益勤於事,不辭勞苦。十載之後,天登鄉薦,復中廷試,擢為狀元,拜官顯貴,車馬盈門,宅樓綺麗,受人欽仰。

Phiên âm: Địa toại trú canh dạ hoát, di thiên hàn song. Kiến thiên nhật tiến ư học, địa ích cần ư sự, bất từ lao khổ. Thập tải chi hậu, thiên đăng hương tiến, phục trung đình thí, trạc vi trạng nguyên, bái quan hiển quý, xa mã doanh môn, trạch lâu ỷ lệ, thâu nhân khâm ngưỡng.

Rồi đó Địa trần lực đêm ngày làm thuê để nuôi bạn học hành. Thấy Thiên học mỗi ngày một tiến, anh chàng lại càng hăng hái làm việc, không quản gì cả. Cứ như thế sau mười năm đèn sách, Thiên đậu khoa thi hương rồi vào thi đình, đậu luôn Trạng nguyên, được làm quan to hiển quý, ngựa xe đầy nhà, dinh thự nguy nga, được mọi người trọng vọng.

地聞之,愷然歸牛於主,賣屋具禮,赴京覲友。不意天已變心,拒而不納,命門者閉戶,地悽然返迴。

Phiên âm: Địa văn chi, khải nhiên quy ngưu ư chủ, mại ốc cụ lễ, phó kinh cận hữu. Bất ý thiên dĩ biến tâm, cự nhi bất nạp, mệnh môn giả bế hộ, địa thê nhiên phản hồi.

Được tin, Địa rất sung sướng đem trâu cày về trả chủ. Rồi anh bán phăng cái nhà ở lấy một số tiền mua đồ lễ tìm vào dinh bạn. Ngờ đâu khi đến nơi thì Thiên đã thay lòng đổi dạ không muốn nhận lại bạn cũ nữa. Hắn dặn quân canh cấm cửa không cho Địa vào. Địa bị đuổi tủi thân ra về.

步至江渚,惱從中釋,淚下如雨;思人心之反覆,感己命之蹇蹇;且今歸鄉,無所容身,蓋屋已販矣。忽有異人化作過客,駐足而問之,地具言之。其人輒施法化舠,嚀曰:『汝且居此渡人,足以自給,無須復為傭矣。』言訖而隱。

Phiên âm: Bộ chí giang chử, não tòng trung thích, lệ hạ như vũ; tư nhân tâm chi phản phúc, cảm kỷ mệnh chi kiển kiển; thả kim quy hương, vô sở dung thân, cái ốc dĩ phiến hỹ. Hốt hữu dị nhân hoá tác quá khách, trú túc nhi vấn chi, địa cụ ngôn chi. Kỳ nhân triếp thi pháp hoá đao, ninh viết: “Nhữ thả cư thử độ nhân, túc dĩ tự cấp, vô tu phục vi dung hỹ.” Ngôn cật nhi ẩn.

Vừa đến bờ sông, buồn bã từ trong dạ tuôn ra, nước mắt rơi lã chã; nghĩ đến lòng người đen bạc, cảm thương số mình hẩm hiu, vả bấy giờ về làng cũng không biết ở vào đâu nữa vì nhà đã bán mất rồi. Tự dưng có một dị nhân hiện lên làm một người khách qua đường dừng lại hỏi anh. Địa kể lể đầu đuôi cho người đó nghe. Người đó bèn hóa phép cho anh một chiếc đò và dặn rằng: “Anh cứ tạm ở đây chở khách qua lại trên sông này cũng đủ ăn, không phải đi làm thuê nữa”. Nói xong liền biến đi.

地遂操舟濟人,日得溫飽,然贏僅足糊口,終無餘資可蓄。歲晚欲祭父,而乏齎。彼暮,既渡數人,地方返舟至流中,復聞人喚舟聲。溘有少婦,姿容絕世,曰:「夜已深,願借宿一宵。」

Phiên âm: Địa toại thao chu tế nhân, nhật đắc ôn bão, nhiên doanh cận túc hồ khẩu, chung vô dư tư khả súc. Tuế vãn dục tế phụ, nhi phạp tê. Bỉ mộ, ký độ sổ nhân, địa phương phản chu chí lưu trung, phục văn nhân hoán chu thanh. Khạp hữu thiểu phụ, tư dung tuyệt thế, viết: “Dạ dĩ thâm, nguyện tá túc nhất tiêu.”

Địa nghe lời, ở lại đó làm nghề chống đò ngang. Nhưng anh chàng chỉ kiếm vừa đủ nuôi miệng, không để dành được một đồng tiền nào. Cho nên đến ngày giỗ cha chẳng biết lấy gì mà cúng. Chiều hôm ấy, sau khi chở cho mấy người khách sang bờ bên kia, Địa vừa chèo về đến nửa sông đã lại nghe có tiếng gọi đò. Anh lại cho đò trở lại. Khách là một người đàn bà còn trẻ tuổi và rất xinh đẹp. Trời lúc ấy đã nhá nhem, người đàn bà nói với Địa: “Trời đã tối mà đường còn xa, anh làm ơn cho tôi nghỉ nhờ một đêm.”

地居僅一茅廬倚江而立,廬中惟一竹牀而已。然亦讓其臥之。乃避席就外眠,遽其問曰:「君娶與否?」地曰:「未也。」婦曰:「願為君妻!」地驚愕失措,不知所對。婦復言曰:「妾本天宮之仙。上見君仁而甚紆,乃遣余下凡,以襄君脫苦而享悰。」言訖,舉手顯法,頓化茅廬為朱門廣第,瓦屋高牆,重廊曠院,甃地為磚,室中器物畢具,婢僕成列,如雲如雨。

Phiên âm: Địa cư cận nhất mao lư ỷ giang nhi lập, lư trung duy nhất trúc sàng nhi dĩ. Nhiên diệc nhượng kỳ ngoạ chi. Nãi tị tịch tựu ngoại miên, cự kỳ vấn viết: “Quân thú dữ bĩ?” Địa viết: “Vị dã.” Phụ viết: “Nguyện vi quân thê!” Địa kinh ngạc thất thố, bất tri sở đối. Phụ phục ngôn viết: “Thiếp bản thiên cung chi tiên. Thượng kiến quân nhân nhi thậm hu, nãi khiển dư hạ phàm, dĩ tương quân thoát khổ nhi hưởng tông.” Ngôn cật, cử thủ hiển pháp, đốn hoá mao lư vi châu môn quảng đệ, ngoã ốc cao tường, trùng lang khoáng viện, trứu địa vi chuyên, thất trung khí vật tất cụ, tì bộc thành liệt, như vân như vũ.

Nhà Địa chỉ là một túp lều nhỏ bên sông, trong nhà chỉ có một cái chõng, nhưng anh cũng nhường cho người đàn bà ấy nằm. Thấy Địa toan đi kiếm một nơi khác ngủ, người đàn bà bỗng hỏi anh: – “Anh đã có vợ chưa?”. Địa trả lời: – “Chưa” – “Tôi xin làm vợ anh!”. Địa rất ngạc nhiên và bỡ ngỡ, không biết trả lời ra thế nào cả. Nàng lại nói: – “Tôi là người trên cung tiên. Trời thấy anh là người tử tế mà chịu khổ chịu sở đã nhiều rồi nên cho tôi xuống giúp anh sung sướng”. Nói rồi nàng hoá phép biến túp lều bên bờ sông thành một dinh cơ rất đẹp: nhà ngói, tường dắc, hành lang, sân gạch, trong nhà đồ dùng thức đựng đầy đủ, kẻ hầu người hạ từng đoàn.

地見其變,喜驚交錯。仙復展法為之陳設豐饌,備祭亡父。翌日,仙命地衣錦袍,乘肩輿,往邀天赴祭。天是時接之頗謹,然聞邀至舍餌祭,遂撅唇曰:「若欲吾抵,須鋪錦茵,自此至彼,吾乃肯行。」

Phiên âm: Địa kiến kỳ biến, hỷ kinh giao thác. Tiên phục triển pháp vị chi trần thiết phong soạn, bị tế vong phụ. Dực nhật, tiên mệnh địa y cẩm bào, thừa kiên dư, vãng yêu thiên phó tế. Thiên thị thì tiếp chi phả cẩn, nhiên văn yêu chí xá nhị tế, toại quyết thần viết: “Nhược dục ngô để, tu phô cẩm nhân, tự thử chí bỉ, ngô nãi khẳng hành.”

Địa vừa kinh lạ vừa vui sướng. Nàng tiên lại hoá phép làm ra cỗ bàn linh đình để cho anh chàng làm giỗ cúng cha. Sáng hôm sau, nàng tiên bảo Địa hãy mặc đồ gấm vóc, ngồi kiệu đến mời Thiên sang nhà mình ăn giỗ. Lần này Địa được Thiên tiếp đãi có phần tử tế. Nhưng khi nghe nói mời đến nhà ăn giỗ, hắn bĩu môi bảo Địa: Chú muốn ta đến chơi thì hãy trải chiếu hoa từ đây đến nhà, ta sẽ đến.

地歸言之於妻,之復運法,化綺薦為道途,自其舍及天之第。天未諳地之富貴,聞之驚奇,乃往觀焉。既至,見宅第宏靚,器用華葩,堂宇深嚴,無一可及者,詫然稱異。享祭之時,地之妻親酌以勸。天見其貌絕倫,心生媢嫉,竊歎地之有幸。至於酒酣耳熱,天曰:「若以妻與家資易我爵與府第,吾願讓之。」

Phiên âm: Địa quy ngôn chi ư thê, chi phục vận pháp, hoá ỷ tiến vi đạo đồ, tự kỳ xá cập thiên chi đệ. Thiên vị am địa chi phú quý, văn chi kinh kỳ, nãi vãng quan yên. Ký chí, kiến trạch đệ hoành tịnh, khí dụng hoa ba, đường vũ thâm nghiêm, vô nhất khả cập giả, sá nhiên xưng dị. Hưởng tế chi thì, địa chi thê thân chước dĩ khuyến. Thiên kiến kỳ mạo tuyệt luân, tâm sinh mạo tật, thiết thán địa chi hữu hạnh. Chí ư tửu hàm nhĩ nhiệt, thiên viết: “Nhược dĩ thê dữ gia tư dị ngã tước dữ phủ đệ, ngô nguyện nhượng chi.”

Địa về kể lại chuyện cho vợ nghe. Nàng tiên lại hoá phép thành chiếu hoa trải một đoạn đường dài từ nhà mình đến dinh Thiên ở. Thiên không ngờ trong thời gian vừa qua Địa cũng trở nên giàu có lớn, mới đến xem cho biết sự tình. Đến nơi, hắn rất lấy làm lạ khi thấy nhà cửa và mọi thứ đồ đạc của Địa ít có nhà nào bì kịp. Khi ăn giỗ, vợ Địa thân hành ra mời rượu. Thấy nàng đẹp quá, Thiên đâm ra ganh tỵ với hạnh phúc của Địa. Rượu say, hắn nói: Chú đổi vợ chú cùng cơ nghiệp này cho tôi thì tôi nhường chức quan cùng dinh cơ của tôi cho chú.

地本不欲,仙輒低語勸之,地遂從命。於是兩人立書為契,分毫不爽。既而地乘輿返廈,天則酩酊而眠。至曉,酒醒,睜目而視,惶然不知其所處,見己竟臥於江渚茅廬之中。美妻與盛屋,頃刻俱空,如夢如幻。自此天代地操舟濟人,終日勞作。地則轉愚為智,仕途亨通,享祿不絕。

Phiên âm: Địa bản bất dục, tiên triếp đê ngữ khuyến chi, địa toại tòng mệnh. Ư thị lưỡng nhân lập thư vi khế, phân hào bất sảng. Ký nhi địa thừa dư phản hạ, thiên tắc mính đính nhi miên. Chí hiểu, tửu tỉnh, tĩnh mục nhi thị, hoàng nhiên bất tri kỳ sở xứ, kiến kỷ cánh ngoạ ư giang chử mao lư chi trung. Mỹ thê dữ thịnh ốc, khoảnh khắc câu không, như mộng như ảo. Tự thử thiên đại địa thao chu tế nhân, chung nhật lao tác. Địa tắc chuyển ngu vi trí, sĩ đồ hanh thông, hưởng lộc bất tuyệt.

Không bao giờ Địa lại muốn như thế, nhưng nàng tiên bảo nhỏ xui Địa bằng lòng. Hai bên cùng làm tờ giao ước. Thế rồi sau đó Địa lên võng về dinh, còn Thiên say rượu nằm ngủ một giấc ly bì. Nhưng đến sáng hôm sau, khi bừng mắt tỉnh dậy, hắn ngơ ngác thấy mình nằm ở một túp lều bên sông. Người vợ đẹp cùng cả dinh cơ của hắn ngày hôm qua đã biến đâu mất cả. Từ đó hắn làm nghề chống đò thay cho Địa. Còn Địa hoá ra thông minh khôn ngoan, làm quan sung sướng mãi.

吾竊論曰:夫世途險詭,人心多變。然天道至公,報施無差。地以赤心待人,不計勞椘,十載養友,恩深似海。及天顯達,反負舊情,絕義忘恩,誠可歎矣。地雖一時困頓,終不改節。天意感其至禛,乃降仙偶,興宅宇於江渚,致榮華於蓬門。至於富貴榮顯,非其所求,實乃善報所致。嗚呼!天奪之者,地還之;人棄之者,神扶之。是知:行善不圖報,福報自來;忘恩圖僥倖,禍機已伏。

Phiên âm: Ngô thiết luận viết: phu thế đồ hiểm nguỵ, nhân tâm đa biến. Nhiên thiên đạo chí công, báo thi vô si. Địa dĩ xích tâm đãi nhân, bất kế lao sở, thập tải dưỡng hữu, ân thâm tự hải. Cập thiên hiển đạt, phản phụ cựu tình, tuyệt nghĩa vong ân, thành khả thán hỹ. Địa tuy nhất thì khốn đốn, chung bất cải tiết. Thiên ý cảm kỳ chí chân, nãi giáng tiên ngẫu, hưng trạch vũ ư giang chử, trí vinh hoa ư bồng môn. Chí ư phú quý vinh hiển, phi kỳ sở cầu, thực nãi thiện báo sở trí. Ô hô! Thiên đoạt chi giả, địa hoàn chi; nhân khí chi giả, thần phù chi. Thị tri: hành thiện bất đồ báo, phúc báo tự lai; vong ân đồ nghiêu hãnh, hoạ cơ dĩ phục.

Ta trộm luận rằng: Con đường nhân thế hiểm hóc khôn lường, lòng người thường dễ thay đổi. Nhưng đạo trời công bằng, trả ơn báo oán không sai sót bao giờ. Địa lấy lòng chân thành đối đãi với bạn, chẳng quản vất vả nhọc nhằn, mười năm nuôi bạn ăn học, nghĩa tình sâu nặng như biển. Đến khi Thiên hiển đạt, lại trở mặt vô tình, vong ân bội nghĩa, thật đáng buồn thay! Song Địa dù lúc ấy khốn cùng, vẫn không thay lòng đổi dạ. Trời cảm lòng trung hậu, mới sai tiên nữ hạ phàm, dựng nhà cao cửa rộng bên bến sông, đem phú quý đến nơi nghèo hèn. Sự vinh hiển mà Địa có được không phải do mưu cầu, mà là kết quả của việc làm thiện lành, phúc báo tự đến. Than ôi! Cái gì Trời đã lấy đi thì cũng sẽ trả lại; cái gì người đời ruồng bỏ thì Thần linh sẽ nâng đỡ. Cho nên biết rằng: Kẻ làm điều thiện mà không mưu cầu báo đáp, phúc lành ắt sẽ tới. Kẻ phản phúc bội nghĩa, dù có được quyền thế trong chốc lát, cuối cùng cũng khó giữ lâu dài.

CHUYỂN DỊCH TRUYỆN CỔ TÍCH CÁI CHỔI SANG VĂN NGÔN – TỰA ĐỀ: TRỬU TRUYỆN 箒傳

  • Nguyễn Thanh Lộc chuyển dịch sang cổ Hán văn

1. 昔於九重紫闕之上,一婦御膳者焉,爨藝絕倫,饈珍異饌,製法入神。餅一嚐而繞魂,羹半匙而纏魄,味驚羣仙,饔動天帝。以此上皇特命,監飧於天廚,總饈饌之政,主鐤鑊之權。

Phiên âm: Tích ư cửu trùng tử khuyết chi thượng, nhất phụ ngự thiện giả yên, thoán nghệ tuyệt luân, tu trân dị soạn, chế pháp nhập thần. Bính nhất thường nhi nhiễu hồn, canh bán thi nhi triền phách, vị kinh quần tiên, ung động thiên đế. Dĩ thử thượng hoàng đặc mệnh, giám san ư thiên trù, tổng tu soạn chi chính, chủ đĩnh hoạch chi quyền.

Ngày xưa, tại chốn lầu ngọc chín tầng nơi thiên cung, có một người đàn bà làm nghề nấu bếp. Tay nghề điêu luyện, món ăn thơm ngon tuyệt diệu, cách nấu như xuất quỷ nhập thần. Bánh chỉ nếm một lần đã vấn vương hồn, canh chỉ húp nửa muỗng đã níu lòng lại. Hương vị làm chư tiên phải sững sờ, món ăn cũng khiến Ngọc Hoàng cũng cảm động. Vì vậy, Ngọc Hoàng đặc mệnh phong giữ chức trông coi nhà bếp thiên đình, nắm quyền bếp núc, giữ việc nấu nướng.

2. 然性饕餮,心懷貪戀;天規有定,不容偷啖,然之女憘伺間隙,盜食於中;爘慾既萌,禁令難止,飢心一動,竊舉輒行。

Phiên âm: Nhiên tính thao thiết, tâm hoài tham luyến; thiên quy hữu định, bất dung thâu đạm, nhiên chi nữ hy tứ gian khích, đạo thực ư trung; xan dục ký manh, cấm linh nan chỉ, cơ tâm nhất động, thiết cử triếp hành.

Nhưng tính vốn tham ăn, lòng đầy ham muốn. Dù có luật rõ ràng, không dung người ăn vụng, nhưng bà vẫn thích thừa cơ hội lấy trộm đồ ăn, lòng tham ăn đã manh nha thì lệnh cấm cũng khó dừng, một khi bụng đói cồn cào, bà cũng lén làm.

3. 是女遐齡,猶情於養馬之吏。其老者,名弗可考,職司天廄,形瘦色黯,惟嗜酒而樂肉。女深慻之,視若神明,願以膳饌佐其杯中之興,藉珍饈饛其齒間之癖。數番盜玉觴瓊觶,或沕遞與之,或引之入庖,使其縱飲酣醉,忘返迴道。

Phiên âm:Thị nữ hà linh, do tình ư dưỡng mã chi lại. Kì lão giả, danh phất khả khảo, chức ti thiên cứu, hình sấu sắc ảm, duy thị tửu nhi nhạc nhục. Nữ thâm quyến chi, thị nhược thần minh, nguyện dĩ thiện soạn tá kì bôi trung chi hưng, tạ trân tu mông kì xỉ gian chi tích. Sổ phiên đạo ngọc trường quỳnh chí, hoặc vật đệ dữ chi, hoặc dẫn chi nhập bao, sử kì tung ẩm hàm tuý, vong phản hồi đạo.

Người đàn bà ấy tuy đã già, nhưng vẫn đem lòng yêu một người giữ ngựa. Ông ta tên họ chẳng rõ, làm bật mã ôn, thân gầy da sạm, chỉ thích rượu và mê thịt thà. Bà mê ông ta như si mê một vị thần, sẵn sàng lấy đồ ngự thiện để chiều hứng thú tửu trà của ông, lấy trân phẩm chất đầy cái thói nhét kẽ răng của ông. Nhiều lần bà lén lấy rượu quý, hoặc lén đưa cho ông, hoặc lén dẫn ông vào bếp để tha hồ uống say đến quên lối về.

4. 一日,上皇設饗,宴百神於瑤池;竈事倥偬,釜鳴鼎沸,炊煙萬丈,臠焄盈宙。將及月昇,筵開矣。臐未設案,女業聞歌於遠嶠,知其人至。急迎之入,藏其於櫥,奉以醇三樽,乃天之上品。

Phiên âm: Nhất nhật, thượng hoàng thiết hưởng, yến bách thần ư dao trì; táo sự không tổng, phủ minh đỉnh phất, xuy yên vạn trượng, luyến hôn doanh trụ. Tướng cập nguyệt thăng, diên khai hỹ. Huân vị thiết án, nữ nghiệp văn ca ư viễn kiệu, tri kì nhân chí. Cấp nghinh chi nhập, tàng kì ư trù, phụng dĩ thuần tam tôn, nãi thiên chi thượng phẩm.

Một hôm, Ngọc Hoàng mở tiệc lớn chiêu đãi chư thần tại đầm Ngọc. Nhà bếp bận rộn vô cùng: nồi reo, chảo nóng, khói bay cuồn cuộn, mùi thơm lan khắp. Đến khi trăng rằm vừa nhô lên là lúc tiệc bắt đầu. Nhưng món chưa kịp lên bàn, bà đã nghe tiếng hát quen từ xa – biết ngay người yêu đến. Bà vội ra đón, giấu ông vào chạn, đưa cho ông ba chén rượu quý – rượu thượng phẩm nhất thiên đình.

5. 是時其方自水濱浴馬歸,餧腸如鼓鼙,聞馤則涎流,便舉杯即飲,微醺而忘形。驀感齒癢,欲尋下酒之物,遂暗中探於香饌之間,揭蓋噍嚼,無所顧忌。

Phiên âm: Thị thì kỳ phương tự thuỷ tân dục mã quy, uỷ trường như cổ bề, văn ái tắc tiên lưu, tiện cử bôi tức ẩm, vi huân nhi vong hình. Mạch cảm xỉ dương, dục tầm hạ tửu chi vật, toại ám trung thám ư hương soạn chi gian, yết cái tiếu tước, vô sở cố kị.

Lúc đó, ông mới tắm ngựa từ bến sông về, đói bụng như trống đánh, ngửi mùi thơm thì chảy nước miếng, bèn nâng chén uống liền, men say bốc lên làm ông ngà ngà. Chợt thấy ngứa răng, muốn tìm đồ nhắm, bèn trong tối mò tìm giữa mùi thơm đồ ăn, mở lồng bàn ra và cứ thế bốc ăn liên tục, chẳng còn nghĩ đến hậu quả.

6. 頃之,御饌上席,諸盤宛出殘跡,器中餚缺,似曾嚐啐。上皇見狀,赫然而怒,大發雷霆:「孰敢竊御饌,辱朕天儀!」諸臣戰慄,席散無歡。其俯首自陳,並牽之人而前,二人發配塵寰,形為掃箒,永操塵役,毋許停息。糞土為糦,餿餌為糧,誠為天庭之重誅也。

Phiên âm: Khoảnh chi, ngự soạn thượng tịch, chư bàn uyển xuất tàn tích, khí trung hào khuyết, tự tằng thường thối. Thượng hoàng kiến trạng, hách nhiên nhi nộ, đại phát lôi đình: “Thục cảm thiết ngự soạn, nhục trẫm thiên nghi!” Chư thần chiến lật, tịch tán vô hoan. Kỳ phủ thủ tự trần, tịnh khiên chi nhân nhi tiền, nhị nhân phát phối trần hoàn, hình vy tảo trửu, vĩnh thao trần dịch, vô hứa đình tức. Phân thổ vi xí, sưu nhị vi lương, thành vi thiên đình chi trùng tru dã.

Lát sau, khi mâm cỗ được bưng ra, các mâm đều có tàn tích, trong đồ có đồ ăn bị cắn dở, giống như từng có người nếm qua. Ngọc Hoàng thấy hiện trang, liền nổi giận đùng đùng, nổi trận lôi đình: “Kẻ nào dám ăn trộm ngự thiện, làm ô uế thiên nghi của trẫm!” Chư thần sợ hãi, tiệc tan, không ai còn vui. Bà đầu bếp cúi đầu nhận tội, dắt người đàn ông ra phía trước. Hai người bị đày xuống trần gian, hóa thành cây chổi, suốt đời làm việc trần ai, không được nghỉ ngơi, phân đất là lương thực, đồ ôi thiu là đồ ăn, thật là hình phạt nặng nhất của trời vậy.

7. 後之久矣,二人懺悔不輟,言哀辭婉,上帝憫之,特許歲中三日可息,名曰「三日免勞」。因之,制為禁例,凡歲頭三日忌掃,以慰靈箒,而表軫悼。

Phiên âm: Hậu chi cửu hĩ, nhị nhân sám hối bất chuyết, ngôn ai từ uyển, thượng đế mẫn chi, đặc hứa tuế trung tam nhật khả tức, danh viết “tam nhật miễn lao”. Nhân chi, chế vi cấm lệ, phàm tuế đầu tam nhật kị tảo, dĩ uỷ linh trửu, nhi biểu chẩn điệu.

Về sau, hai người sám hối không ngớt, lời nói xót xa, Ngọc Hoàng động lòng thương, đặc cách ban cho ba ngày được nghỉ – gọi là “tam nhật miễn lao”. Từ đó, người đời lập thành tục lệ, phàm ba ngày đầu năm kiêng không quét nhà, để an ủi linh hồn chổi, nhằm biểu lộ sự xót xa.

DỊCH “VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC” SANG HÁN VĂN – 芹𣨧義士祭文

1. Nguyên văn: Hỡi ơi!

Dịch cổ văn: 嗚呼!

Phiên âm: Ô hô

2. Nguyên văn: Súng giặc đất rền; Lòng dân trời tỏ.

Dịch cổ văn: 夷炮震地,民心昭天。

Phiên âm: Di pháo chấn địa, dân tâm chiêu thiên.

3. Nguyên văn: Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Dịch cổ văn: 十載耕鋤之苦,未必聲傳若浮標;

Phiên âm: Thập tải canh sừ chi khổ, vị tất thanh truyền nhược phù tiêu;

Nguyên văn: Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ.

Dịch cổ văn: 一朝戰法之功,雖殂名動如鋌鐸。

Phiên âm: Nhất triêu chiến Pháp chi công, tuy tồ danh động như đĩnh đạc.

4. Nguyên văn: Nhớ linh xưa:

Dịch cổ văn: 念英靈之往日:

Phiên âm: Niệm anh linh chi vãng nhật:

5. Nguyên văn: Cui cút làm ăn; Riêng lo nghèo khó.

Dịch cổ văn: 踽踽營生,獨憂困窘.。

Phiên âm: Chủ chủ doanh sinh, độc ưu khốn quẫn

6. Nguyên văn: Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Dịch cổ văn: 未習弓馬,不識行陣之場;

Phiên âm: Vị tập cung mã, bất thức hành trận chi trường

Nguyên văn: Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

Dịch cổ văn: 惟知耕犁,長居鄉社之內。

Phiên âm: Duy tri canh lê, trường cư hương xã chi nội.

7. Nguyên văn: Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Dịch cổ văn: 鋤耙耘耩,手原熟能;

Phiên âm: Sừ ba vân giảng, thủ nguyên thục năng;

Nguyên văn: Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

Dịch cổ văn: 槍盾戟旗,目未曾觀。

Phiên âm: Thương thuẫn kích kì, mục vị tằng quán.

8. Nguyên văn: Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn mong mưa;

Dịch cổ văn: 風鶴之聲,悠悠十月,盼官軍如旱望雲霓;

Phiên âm: Phong hạc chi thanh, du du thập nguyệt, phán quan quân như hạn vọng vân nghê;

Nguyên văn: Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọt như nhà nông ghét cỏ.

Dịch cổ văn: 腥膻之氣,滲染三年,惡賊黨若農憎蔓芥。

Phiên âm: Tinh thiên chi khí, sấm nhiễm tam niên, ố tặc đảng nhược nông tăng mạn giới.

9. Nguyên văn: Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Dịch cổ văn: 初見洋帆蔽皚皚,志在噍肝;

Phiên âm: Sơ kiến dương phàm tế khải khải, chí tại tiếu can;

Nguyên văn: Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

Dịch cổ văn: 再觀煙柱濃沉沉,願為啖咽。

Phiên âm: Tái quan yên trụ nùng trầm trầm, nguyện vi đạm yết.

10. Nguyên văn: Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Dịch cổ văn: 車書磊磊,豈容姦賊斬蛇逐鹿;

Phiên âm: Xa thư lỗi lỗi, khởi dung gian tặc trục lộc trảm xà;

Nguyên văn: Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

Dịch cổ văn: 日月煌煌,安許惡徒懸羊鬻犬?

Phiên âm: Nhật nguyệt hoàng hoàng, an hứa ác đồ huyền dương dục khuyển?

11. Nguyên văn: Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Dịch cổ văn: 非待召募,此番請纓斷鯨;

Phiên âm: Phi đãi chiêu mộ, thử phiên thỉnh anh đoạn kình;

Nguyên văn: Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Dịch cổ văn: 不思避逃,斯度奮力捕虎。

Phiên âm: Bất tư tị đào, tư độ phấn lực bộ hổ.

12. Nguyên văn: Khá thương thay:

Dịch cổ văn: 誠可哀哉!

Phiên âm: Thành khả ai tai

13. Nguyên văn: Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Dịch cổ văn: 本非營衛之卒,因義投軍;

Phiên âm: Bổn phi doanh vệ chi tốt, nhân nghĩa đầu quân;

Nguyên văn: Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

Dịch cổ văn: 原乃鄰里之民,以忠赴役。

Phiên âm: Nguyên nãi lân lí chi dân, dĩ trung phó dịch.

14. Nguyên văn: Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Dịch cổ văn: 十八般武藝,未經教練;

Phiên âm: Thập bát bàn võ nghệ, vị kinh giáo luyện;

Nguyên văn: Chín chục trận binh thư, đâu chờ bày bố.

Dịch cổ văn: 九十卷兵書,不待鋪排。

Phiên âm: Cửu thập quyển binh thư, bất đãi phô bài.

15. Nguyên văn: Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi đeo bao tấu bầu ngòi;

Dịch cổ văn: 外披布襖,未佩刃囊火袋;

Phiên âm: Ngoại phi bố áo, vị bội nhận nang hoả đại;

Nguyên văn: Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu nón gõ.

Dịch cổ văn: 手執竹槍,何需鐵笠柴刀?

Phiên âm: Thủ chấp trúc thương, hà nhu thiết lạp sài đao?

16. Nguyên văn: Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Dịch cổ văn: 點火繩以藁,亦焚邪教之舍;

Phiên âm: Điểm hoả thằng dĩ cảo, diệc phần tà giáo chi xá;

Nguyên văn: Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

Dịch cổ văn: 代鋒劍為刃,也斬侵官之頭。

Phiên âm: Đại phong kiếm vi nhận, dã trảm xâm quan chi đầu.

17. Nguyên văn: Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Dịch cổ văn: 毋勞司令擊鼓催陣,躍堵衝前,視賊如無;

Phiên âm: Vô lao tư lệnh kích cổ thôi trận, dược đổ xung tiền, thị tặc như vô;

Nguyên văn: Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

Dịch cổ văn: 不懼番兵發彈轟追,踹門闖入,瞅死若遺。

Phiên âm: Bất cụ phiên binh phát đạn hoanh truy, soại môn sấn nhập, thu tử nhược di.

18. Nguyên văn: Kẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Dịch cổ văn: 橫刺直斬,令馬邪馬儞魂驚;

Phiên âm: Hoành thích trực trảm, lệnh Mã Tà Mã Nễ hồn kinh;

Nguyên văn: Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ.

Dịch cổ văn: 前軍後隊,縱鐵舫銅船銃響。

Phiên âm: Tiền quân hậu đội, tung thiết phảng đồng thuyền súng hưởng.

19. Nguyên văn: Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Dịch cổ văn: 久蓄義心,今得施展;

Phiên âm: Cửu súc nghĩa tâm, kim đắc thi triển;

Nguyên văn: Đâu biết xác phàm vội bỏ.

Dịch cổ văn: 豈知凡體,忽須殉亡。

Phiên âm: Khởi tri phàm thể, hốt tu tuẫn vong.

20. Nguyên văn: Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Dịch cổ văn: 一入沙場報義字,豈知馬革裹屍還;

Phiên âm: Nhất nhập sa trường báo “nghĩa” tự, khởi tri mã cách khoả thi hoàn;

Nguyên văn: Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

Dịch cổ văn: 百年幽冥兮歸詞,未望虎刀懸墳籠。

Phiên âm: Bách niên u minh hề quy từ, vị vọng hổ đao huyền phần lũng.

21. Nguyên văn: Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Dịch cổ văn: 顧見芹𣨧江頭,萬里愁雲迷樹草;

Phiên âm: Cố kiến Cần Giuộc giang đầu, vạn lý sầu vân mê thụ thảo;

Nguyên văn: Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

Dịch cổ văn: 遙望長平市口,千行淚雨滿老兒。

Phiên âm: Dao vọng Trường Bình thị khẩu, thiên hành lệ vũ mãn lão nhi.

22. Nguyên văn: Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Dịch cổ văn: 實非盜案,姦案以譴之徒;而逼為兵,甘心殺賊。

Phiên âm: Thực phi đạo án, gian án dĩ khiển chi đồ; nhi bức vi binh, cam tâm sát tặc.

Nguyên văn: Vốn không giữ thành, giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Dịch cổ văn: 本匪守城,守壘而逃之黨;卻強效力,當死從軍。

Phiên âm: Bổn phỉ thủ thành, thủ luỹ nhi đào chi đảng; khước cưỡng hiệu lực, đáng tử tòng quân.

23. Nguyên văn: Nhưng nghĩ rằng:

Dịch cổ văn: 念彼:

Phiên âm: Niệm bỉ

24. Nguyên văn: Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Dịch cổ văn: 寸土寸蔬,皆君恩所賜;

Phiên âm: Thốn thổ thốn sơ, giai quân ân sở tứ;

Nguyên văn: Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

Dịch cổ văn: 一飯一衣,何干彼祖宗?

Phiên âm: Nhất phạn nhất y, hà can bỉ tổ tông?

25. Nguyên văn: Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Dịch cổ văn: 為誰使將士飽經風霜?

Phiên âm: Vị thuỳ sử tướng sĩ bão kinh phong sương?

Nguyên văn: Vì ai xui hào luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió?

Dịch cổ văn: 為誰令壕堞盡作塵埃?

Phiên âm: Vị thuỳ lệnh hào điệp tận tác trần ai?

26. Nguyên văn: Sống làm chi theo quân tà đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Dịch cổ văn: 曷活從逆黨,毀祠堂,撤像案,見之倍哀;

Phiên âm: Hạt hoạt tòng nghịch đảng, huỷ từ đường, triệt tượng án, kiến chi bội ai;

Nguyên văn: Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Dịch cổ văn: 何居為馬邪,分醪酒,啖土司,聞之益愧。

Phiên âm: Hà cư vi Mã Tà, phân lao tửu, đạm thổ ti, văn chi ích quý.

27. Nguyên văn: Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Dịch cổ văn: 寧死為義,歸祖先於九泉,亦光榮;

Phiên âm: Ninh tử vị nghĩa, quy tổ tiên ư cửu tuyền, diệc quang vinh;

Nguyên văn: Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Dịch cổ văn: 不願偷生,事夷狄於塵世,實可哀。

Phiên âm: Bất nguyện thâu sinh, sự di địch ư trần thế, thực khả ai.

28. Nguyên văn: Ôi thôi thôi!

Dịch cổ văn: 哀哉哀哉!

Phiên âm: Ai tai ai tai!

29. Nguyên văn: Chùa Tân Thạnh năm canh ưng nóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Dịch cổ văn: 新盛寺五更應寒暑,孤忠寄夢圓月;

Phiên âm: Tân Thạnh tự ngũ canh ưng hàn thử, cô trung kí mộng viên nguyệt;

Nguyên văn: Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.

Dịch cổ văn: 浪沙營一瞬報仇恨,薄命隨波奔流。

Phiên âm: Lang Sa doanh nhất thuấn báo cừu hận, bạc mệnh tuỳ ba bôn lưu.

30. Nguyên văn: Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Dịch cổ văn: 痛哉!慈母為少悲號,孤燈曳曳;

Phiên âm: Thống tai! Từ mẫu vị thiếu bi hạo, cô đăng duệ duệ;

Nguyên văn: Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Dịch cổ văn: 哀哉!弱妻尋夫嚎啕,暮影濛濛。

Phiên âm: Ai tai! Nhược thê tầm phu hào đào, mộ ảnh mông mông.

31. Nguyên văn: Ôi!

Dịch cổ văn: 嗚呼!

Phiên âm: Ô hô

32. Nguyên văn: Một trận khói tan; Nghìn năm tiết rỡ.

Dịch cổ văn: 一戰煙消,千秋節烈。

Phiên âm: Nhất chiến yên tiêu, thiên thu tiết liệt.

33. Nguyên văn: Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm cho bốn phía mây đen;

Dịch cổ văn: 賊軍猶屯麑濱之江,誰使四方陰翳?

Phiên âm: Tặc quân do đồn Nghê Tân chi giang, thuỳ sử tứ phương âm ế?

Nguyên văn: Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

Dịch cổ văn: 祖宗尚鎮同奈之地,誰護一坊赤民?

Phiên âm: Tổ tông thượng trấn Đồng Nại chi địa, thuỳ hộ nhất phường xích dân?

34. Nguyên văn: Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Dịch cổ văn: 死而報國,六省傳馨,忠名共頌;

Phiên âm: Tử nhi báo quốc, lục tỉnh truyền hinh, trung danh cộng tụng;

Nguyên văn: Thác mà ưng đền miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

Dịch cổ văn: 逝而配祀,萬代流馥,正氣長存。

Phiên âm: Thệ nhi phối tự, vạn đại lưu phức, chính khí trưởng tồn.

35. Nguyên văn: Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Dịch cổ văn: 生為衛國之士,死為助兵之魂,願輔征師,千秋報其讎;

Phiên âm: Sinh vi vệ quốc chi sĩ, tử vi trợ binh chi hồn, nguyện phụ chinh sư, thiên thu báo kì thù;

Nguyên văn: Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

Dịch cổ văn: 生為忠臣之流,死為英烈之魄,遵主上諭,一廕酬厥恩。

Phiên âm: Sinh vi trung thần chi lưu, tử vi anh liệt chi phách, tuân chủ thượng dụ, nhất ấm thù quyết ân.

36. Nguyên văn: Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Dịch cổ văn: 英雄涕淚難乾,哀在天民二字;

Phiên âm: Anh hùng thế luỵ nan can, ai tại thiên dân nhị tự;

Nguyên văn: Cây hương nghĩa sĩ thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Dịch cổ văn: 義士香煙猶熾,感於王土一言。

Phiên âm: Nghĩa sĩ hương yên do sí, cảm ư vương thổ nhất ngôn.

37. Nguyên văn: Hỡi ơi!

Dịch cổ văn: 嗚呼!

Phiên âm: Ô hô

38. Nguyên văn: Có linh xin hưởng.

Dịch cổ văn: 英靈有知,尚饗斯文。

Phiên âm: Anh linh hữu tri, thượng hưởng tư văn.

Nguyễn Thanh Lộc dịch

石生傳 (據嶺南摭怪) [THẠCH SANH TRUYỆN – PHỎNG THEO CÁCH VIẾT CỦA “LĨNH NAM CHÍCH QUÁI”] – NGUYỄN THANH LỘC DỊCH SANG CỔ VĂN

昔高平有貧樵,姓石名義,與妻俱老無子。雖處寒微,而篤好善行:公則修橋補埭,疏瀹通津;婆則煮水濟行旅。積善感天,玉皇遣太子下凡,託胎於石氏。婦懷三載,未分娩而公卒。越年,生一子,器宇不凡,名曰石生。未幾母亦逝,石生孤居榕下茅廬,蔽體一褌,操斧樵薪。十三齡,玉帝命仙翁授以百藝神通。

Phiên âm:  Tích Cao Bằng hữu bần tiều, tính Thạch danh Nghĩa, dữ thê câu lão vô tử. Tuy xử hàn vi, nhi đốc hảo thiện hành: công tắc tu kiều bổ đại, sơ thược thông tân; bà tắc chử thuỷ tế hành lữ. Tích thiện cảm thiên, Ngọc Hoàng khiển thái tử hạ phàm, thác thai ư Thạch thị. Phụ hoài tam tải, vị phân vãn nhi công tốt. Việt niên, sinh nhất tử, khí vũ bất phàm, danh viết Thạch Sanh. Vị kỉ mẫu diệc thệ, Thạch Sanh cô cư dung hạ mao lư, tế thể nhất côn, thao phủ tiều tân. Thập tam linh, Ngọc Đế mệnh tiên ông thụ dĩ bách nghệ thần thông.

Ngày xửa ngày xưa ở quận Cao Bình có gia đình bác tiều phu nghèo Thạch Nghĩa, vợ chồng tuổi cao mà vẫn không con. Ông bà tuy nghèo nhưng luôn ra sức làm việc nghĩa. Ông thì sửa cầu, sửa cống, khơi rãnh, đắp đường. Bà thì nấu nước cho người qua đường uống. Việc làm của gia đình họ Thạch thấu đến trời, Ngọc Hoàng liền sai Thái tử đầu thai xuống trần làm con nhà họ Thạch. Bà Thạch thụ thai ba năm, chưa sinh con thì ông Thạch mất. Sau đó, bà Thạch sinh một con trai khôi ngô tuấn tú, đặt tên là Thạch Sanh. Cách ít năm sau, bà Thạch cũng mất, Thạch Sanh sống côi cút một mình trong túp lều tranh dưới gốc đa với một mảnh khố che thân và một cái búa đốn củi. Đến năm Thạch Sanh mười ba tuổi, Ngọc Hoàng sai tiên ông xuống dạy cho chàng các môn võ nghệ và mọi phép thần thông.

忽一日,有酒釀李通,販醪至榕下歇,見石生孔武有力,孤身而居,乃結義金蘭。

Phiên âm: Hốt nhất nhật, hữu tửu nhưỡng Lý Thông, phán dao chí dung hạ hiết, kiến Thạch Sanh khổng võ hữu lực, cô thân nhi cư, nãi kết nghĩa kim lan.

Đến một ngày nọ, có một người làm nghề nấu rượu tên là Lí Thông, đi bán rượu ghé vào gốc đa nghỉ chân, thấy Thạch Sanh khỏe mạnh, lanh lợi, ở một mình, bèn kết nghĩa anh em với Thạch Sanh.

時土中有夜叉,吞人為食。官屢討不克,民建祠以祀,歲獻童男女為祭。

Phiên âm: Thì thổ trung hữu dạ xoa, thôn nhân vi thực. Quan lũ thảo bất khắc, dân kiến từ dĩ tự, tuế hiến đồng nam nữ vi tế.

Khi đó trong vùng có một con Chằn tinh hung hãn thường bắt người ăn thịt, quan quân nhiều lần vây đánh nhưng không được vì nó có phép thần thông biến hóa, không còn cách nào khác nên dân làng liền lập miếu thờ và hàng năm phải nộp cho nó một mạng người thì mới được yên ổn làm ăn.

當年值李通受役之歲,李誘石生代之。石生往之,與妖格鬥,後而斬之。李竊其功,受封為都督。

Phiên âm: Đương niên trị Lí Thông thụ dịch chi tuế, lý dụ Thạch Sanh đại chi. Thạch Sanh vãng chi, dữ yêu cách đấu, hậu nhi trảm chi. Lý thiết kỳ công, thụ phong vi Đô đốc.

Năm ấy, đến lượt Lí Thông phải nộp mạng. Lí Thông bèn tính kế Thạch Sanh thế mạng cho mình. Thạch Sanh đã chiến đấu và giết chết được Chằn tinh, nhưng bị Lí Thông đoạt công, và Lí Thông được nhà vua phong làm đô đốc.

时王女擇婿,妖禽巨鵬突下擄之。王悶命李通尋之,許以國女與傳位。當主危殆,石生見鵬挾人而過,發矢中其翼,尋血至穴,識其所藏。

Phiên âm: Thì vương nữ trạch tế, yêu cầm cự bằng đột hạ lỗ chi. Vương muộn mệnh Lý Thông tầm chi, hứa dĩ quốc nữ dữ truyền vị. Đương chủ nguy đãi, Thạch Sanh kiến bằng hiệp nhân nhi quá, phát thi trúng kỳ dực, tầm huyết chí huyệt, thức kỳ sở tàng.

Bấy giờ có công chúa đang tuổi kén chồng, một hôm bị con yêu tinh Đại bàng sà xuống cắp đi mất. Buồn rầu, nhà vua truyền cho Lí Thông đi tìm, và hứa khi tìm được sẽ gả công chúa và truyền ngôi cho. Lúc công chúa lâm nguy, Thạch Sanh đang ở bên gốc đa, bỗng nhìn thấy Đại bàng cắp người bay qua, liền giương cung bắn trúng một cánh. Lần theo vết máu, Thạch Sanh biết được cái hang ẩn náu của Đại bàng.

李通聞石生知大鵬藏處,遂託以設法救援。及石生下穴,縋繩得公主而出,李通遂使兵以石塞其穴,欲殺石生以再圖其功。石生於穴中與大鵬格鬥,戰甚劇,遂斃之,復得水帝太子而還。水帝感其德,延石生遊於水宮。及還,帝欲以珠玉萬計贈之,石生辭餽,但求神琴一張焉。

Phiên âm: Lý Thông văn Thạch Sanh tri đại bằng tàng xứ, toại thác dĩ thiết pháp cứu viện. Cập Thạch Sanh hạ huyệt, truý thằng đắc công chủ nhi xuất, Lý Thông toại sử binh dĩ thạch tắc kỳ huyệt, dục sát Thạch Sanh dĩ tái đồ kỳ công. Thạch Sanh ư huyệt trung dữ đại bằng cách đấu, chiến thậm kịch, toại tễ chi, phục đắc thuỷ đế thái tử nhi hoàn. Thuỷ đế cảm kỳ đức, diên Thạch Sanh du ư thuỷ cung. Cập hoàn, đế dục dĩ châu ngọc vạn kế tặng chi, thạch sinh từ quỹ, đãn cầu thần cầm nhất trương yên.

Lý Thông nghe được Thạch Sanh biết được nơi ẩn náu của Đại bàng, Lí Thông liền nhờ Thạch Sanh tìm cách giải cứu. Nhưng đến khi Thạch Sanh xuống tìm rồi ròng dây đưa được công chúa lên khỏi hang, thì Lý Thông liền cho quân lính lấy đá lấp kín cửa hang, mưu giết chết Thạch Sanh để tranh công lần nữa. Trong hang, Thạch Sanh đã đánh nhau một trận dữ dội và giết chết Đại bàng, cứu được thái tử con vua Thủy Tề. Để đền ơn, vua Thủy Tề mời Thạch Sanh xuống thủy cung chơi. Khi Thạch Sanh lên bờ, vua tặng chàng vô số châu báu nhưng chàng chỉ xin một cây đàn thần.

以怨石生,夜叉與大鵬之魂竊宮中寶物,反誣石生。官吏信之,遂下石生於獄。石生在囹圄中,引神琴彈之,以寓其情。

Phiên âm: Dĩ oán Thạch Sanh, dạ xoa dữ đại bằng chi hồn thiết cung trung bảo vật, phản vu Thạch Sanh. Quan lại tín chi, toại hạ Thạch Sanh ư ngục. Thạch Sanh tại linh ngữ trung, dẫn thần cầm đàn chi, dĩ ngụ kỳ tình.

Vì oán Thạch Sanh, hồn Chằn tinh và đại bàng lấy trộm châu báu trong cung rồi vu cho chàng. Thạch Sanh bị tống giam. Trong ngục, chàng lấy cây đàn thần ra gảy để bày tỏ nỗi lòng.

卻言公主,見李通使兵塞穴,圖害石生,憤而不言。及聞神琴之聲,忽能言矣。王聞其言,召石生至。事遂得白,王命收李通下獄,石生請而赦之。李通歸途中,為雷所擊暴斃,道人曰其魂化為蜣螂焉。

Phiên âm: Khước ngôn công chủ, kiến Lí Thông sử binh tắc huyệt, đồ hại Thạch Sanh, phẫn nhi bất ngôn. Cập văn thần cầm chi thanh, hốt năng ngôn hĩ. Vương văn kỳ ngôn, triệu Thạch Sanh chí. Sự toại đắc bạch, vương mệnh thu Lí Thông hạ ngục, Thạch Sinh thỉnh nhi xá chi. Lí Thông quy đồ trung, vi lôi sở kích bạo tễ, đạo nhân viết kỳ hồn hoá vi khương lang yên.

Nói về công chúa, vì thấy Lí Thông sai lính lấp hang, mưu hại Thạch Sanh, nên uất ức hóa câm. Nay nghe được tiếng đàn của Thạch Sanh, công chúa bỗng nói nên lời. Nghe con giải bày, nhà vua truyền cho Thạch Sanh đến. Sau khi rõ mọi chuyện, nhà vua truyền lệnh bắt giam Lí Thông, nhưng được Thạch Sanh xin tha cho. Trên đường trở về, con Lí Thông bị sét đánh chết tươi, hóa kiếp thành bọ hung.

王嘉石生之功,乃以公主妻之。先是,十八國太子求婚不許,忿恨於懷,遂率兵伐之。石生復鼓神琴,其聲悽婉,敵軍聞之,思鄉念親,心神離散,未戰而潰。石生設饗於軍,以小釜炊飯,食之不盡。

Phiên âm: Vương gia Thạch Sanh chi công, nãi dĩ công chủ thế chi. Tiên thị, thập bát quốc thái tử cầu hôn bất hứa, phẫn hận ư hoài, toại suất binh phạt chi. Thạch Sanh phục cổ thần cầm, kỳ thanh thê uyển, địch quân văn chi, tư hương niệm thân, tâm thần ly tán, vị chiến nhi hội. Thạch Sanh thiết hưởng ư quân, dĩ tiểu phủ xuy phạn, thực chi bất tận.

Phần dũng sĩ Thạch Sanh, nhà vua cho chàng kết hôn cùng công chúa. Tức giận vì trước đây bị công chúa từ chối lời cầu hôn, thái tử 18 nước chư hầu cùng kéo quân sang đánh. Thạch Sanh lại đem cây đàn thần ra gảy. Tiếng đàn làm quân đối phương rã rời vì nhớ quê, nhớ vợ con,… nên không đánh cũng tan. Trước khi rút về nước, đội quân đông đảo ấy còn được Thạch Sanh cho ăn một bữa cơm. Niêu cơm tuy nhỏ nhưng ăn bao nhiêu cũng không hết.

後王無子,以石生賢,立之為君,與公主偕老,終其天年。

Phiên âm: Hậu vương vô tử, dĩ Thạch Sanh hiền, lập chi vi quân, dữ công chủ giai lão, chung kì thiên niên.

Về sau do vua không có con nên Thạch Sanh được phong làm vua và sống hạnh phúc mãi mãi với công chúa.

吾以為:石生樸而不矜,遇難不懼,遭陷不怨,以至誠感人,終轉禍為福。奸偽者雖巧,終不能勝其正也。夫其事好還,善有善報,惡有惡報,亦誠信矣。

Phiên âm: Ngô dĩ vi: Thạch Sanh phác thành nhi bất căng, ngộ nan bất cụ, tao hãm bất oán, dĩ chí thành cảm nhân, chung chuyển hoạ vi phúc. Gian nguỵ giả tuy xảo, chung bất năng thắng kì chính dã. Phu kỳ sự hảo hoàn, thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, diệc thành tín hỹ.

Ta nghĩ rằng: Thạch Sanh chất phác chân thành, không kiêu căng; khi gặp hiểm nguy không sợ, bị oan khuất không oán, bằng lòng thành mà cảm hóa người, chuyển nguy thành phúc. Kẻ gian dẫu có mưu sâu kế độc, cũng không thể thắng được chính khí. Đạo trời ưa trả báo, thiện tất gặp lành, thực cũng đáng tin vậy.

– Nguyễn Thanh Lộc dịch –

ĐẠI LƯỢC VỀ QUÂN LỄ TRONG TẢ TRUYỆN

Tóm tắt

 Từ trong văn chương kinh điển Nho gia có thể thấy “lễ” 禮 hay “lễ nghi” 禮儀 là mấu chốt quan trọng trong việc điều tiết các chuẩn mực hành vi của con người. Ngay từ xưa kể từ khi con người thực hiện nghi thức giao tiếp và trao đổi buôn bán với nhau đã hình thành phong vị “lễ nghi”. Sau này khi Nho giáo phát triển và được nhiều triều đại phong kiến tận dụng vào việc trị quốc, “lễ“ lại càng được chú trọng và trở thành vấn đề nghiên cứu chung của nhiều học giả trong lịch sử. Thời Hán con người đã hợp xưng và phân lễ nghi thành năm loại và hợp xưng thành Ngũ lễ 五禮 bao gồm Cát lễ 吉禮 chỉ việc tế tự, Hung lễ 凶禮 chỉ việc tang tẫn, Quân lễ 軍禮 chỉ việc quân lính, Tân lễ 賓禮 chỉ việc tiếp khách và Gia lễ 嘉禮 chỉ việc hôn nhân và lễ đội mũ. Trong số đó Quân lễ 軍禮 được xem như là một trong số những nghi lễ quan trọng, đánh dấu bước đầu văn minh trong việc quản lý đất nước của chế độ phong kiến. Theo thiên Đại tông bá 大宗伯 trong chương Xuân quan 春官 của sách Chu lễ 周禮 có ghi chép: “Dĩ quân lễ đồng bang quốc” (以軍禮同邦國 – Lấy lễ quân lữ để thống nhất đất nước). Nói như vậy cũng đồng nghĩa Quân lễ là một trong số các thành phần chính yếu trong việc định hình nền tảng của một quốc gia, Quân lễ không chỉ trọng thị việc bảo vệ biên cương bờ cõi mà còn nhấn mạnh ở việc sắp xếp tổ chức và phân khu cai quản trong mỗi địa vực hành chính quốc gia, hơn hết Quân lễ còn cho thấy được tư duy quân sự của người xưa khi thực thi chính sách cai quản cũng như vấn đề trị an. Chính vì vậy, chúng tôi chọn Quân lễ làm đối tượng nghiên cứu trên không gian nghiên cứu là Tả truyện 左傳 để tìm hiểu một cách đại lược các đặc điểm chung của lĩnh vực nghi lễ trên. Đồng thời đưa ra được các giá trị lịch sử, không chỉ về Quân lễ nói riêng mà còn ở những khía cạnh lễ nghi khác nói chung trong Tả truyện ngõ hầu đưa ra các cách kiến giải mới đến các học giả, bổ sung vào kho dữ liệu lịch sử thuộc hành trình nghiên cứu kinh Xuân Thu.

 Từ khóa: Tả truyện, Quân lễ, kinh Xuân Thu…

  1. Khái lược về đặc điểm Tả truyện của học giả Tả Khưu Minh

Tả truyện 左傳, tên đầy đủ là Xuân Thu Tả thị truyện 春秋左氏傳, vốn có tên là Tả thị Xuân Thu 左氏春秋, đời Hán lại gọi là Xuân Thu Tả thị 春秋左氏, Xuân Thu nội truyện 春秋內傳, Tả thị 左氏… là một bộ Biên niên sử nổi tiếng ghi chép lai lịch sử thời kì Xuân Thu từ năm 722 TCN đến năm 468 với dung lượng thời gian là 255 năm, được phân thành 3 quyển, dài nhất trong Thập tam kinh 十三經 và được Tứ khố toàn thư 四庫全書 xếp vào loại Kinh bộ 經部.

Truyền thống cho rằng Tả truyện là do tác giả Tả Khưu Minh 左丘明 người nước Lỗ vào thời Xuân Thu sáng tác, cùng thời với Khổng Tử và mục đích của nó là chú giải Xuân Thu kinh, hợp với Công Dương truyện 公羊傳 và Cốc lương truyện 穀梁傳 hợp xưng là Xuân Thu tam truyện 春秋三傳. Tư Mã Thiên 司馬遷 là người đầu tiên cho rằng đây là tác phẩm của Tả thị, về sau có thêm Lưu Hướng 劉向, Bùi Nhân 裴駰, Lưu Hâm 劉歆, Hoàn Đàm 桓譚, Ban Cố 班固 cũng cho rằng đây là trứ tác của Tả Khưu Minh. Sau này đến thời Đường, trong thiên Lục gia 六家 trong Sử thông 史通 của tác giả Lưu Tri Cơ 劉知幾 cũng nói: “左傳家者,其先出於左丘明。” (Tả truyện gia giả, kì tiên xuất ư Tả Khưu Minh – Tả truyện, đầu tiên khởi sự từ Tả Khưu Minh.) Thậm chí đến thời Thanh trong sách Tứ khố toàn thư tổng mục 四庫全書總目 của Kỉ Quân 紀昀 cũng vẫn cho rằng đó là do Tả thị sáng tác. Tuy nhiên song hành cùng với lập luận trên cũng có học thuyết cho rằng Tả truyện không phải của Tả Khưu Minh. Người đầu tiên tin rằng Tả truyện không phải của Tả thị là Triệu Khuông Thủ 趙匡首 thời Đường. Về sau cũng có càng ngày càng nhiều người cho rằng Tả Khưu Minh không hề trứ tác Xuân Thu Tả truyện, trong số đó có các nghi hoặc sau: Trịnh Tiều 鄭樵 trong Lục kinh áo luận 六經奧論 cho rằng đây là của tác giả người nước Sở thời Chiến quốc. Hạng An Thế 項安世 lại cho đây là của tác giả người nước Ngụy. Hác Kính 郝敬 cho đây là của tác giả người nước Tấn. Thậm chí Trình Thụy Học 程端學 lại cho đây là ngụy thư. Lưu Phùng Lộc 劉逢祿 trong Tả thị Xuân Thu khảo chứng 左氏春秋考證 và Khang Hữu Vi 康有為 lại đồng nói rằng đây là trứ tác của Lưu Hâm và nhận định Yến Tử Xuân Thu 晏子春秋 và Tả thị Xuân Thu 左氏春秋 cùng thuộc loại sử thư. Đến nay việc tranh luận này vẫn chưa có hồi kết và tác giả của Tả truyện vẫn còn đang trong diện nghi vấn. Tuy là vậy song giá trị mà nó mang lại là không thể chối cãi.

Liên quan đến nội dung của Tả truyện 左傳, thông thường các học giả sẽ đứng trên hai phương diện nghiên cứu: Học phái thứ nhất cho rằng, Tả truyện lấy kinh Xuân Thu làm nền tảng, đồng thời sử dụng các tư liệu lịch sử của liệt quốc như  Chu chí 周志, Tấn thừa 晉乘, Trịnh thư 鄭書, Sở Đào Ngột 楚檮杌 sau đó thông qua việc ghi chép lại cụ thể các mốc lịch sử trong thời kì Xuân Thu để làm thành cương mục đề yếu cho kinh Xuân Thu. Hoàn Đàm 桓譚 trong Tân luận 新論 có viết: ““Tả thị” kinh chi dữ truyện, do y chi biểu lí, tương trì nhi thành, kinh nhi vô truyện, sử thánh nhân bế môn tư chi thập niên bất năng tri dã.” (《左氏》經之與傳,猶衣之表裡,相持而成,經而無傳,使聖人閉門思之十年不能知也。」 – Kinh và truyện của Tả thị, giống như áo ngoài và áo trong vậy, phải hỗ trợ nhau mà thành, kinh mà không có truyện, khiến cho thành nhân đóng cửa suy nghĩ 10 năm vẫn không thể biết được.) Ngay như cả Dương Bá Tuấn 楊伯峻 còn cho rằng Tả truyện đã làm được bốn thứ cho kinh Xuân Thu bao gồm: Bổ sung thư pháp “Xuân Thu”; Bổ sung sự thực “Xuân Thu”; Đính chánh sai sót “Xuân Thu” và Tăng trưởng kinh văn “Xuân Thu”. Học phải còn lại cho rằng, thực ra kinh Xuân Thu và Tả truyện là hai bộ phận tách biệt nhau, đồng thời cho đây là một bộ sử thư độc lập không có liên quan trực tiếp đến kinh Xuân Thu. Học phái này được biết tới nổi tiếng trong các kinh văn đời Tây Hán và được lưu truyền đến mãi về sau. Đại diện có Vương Tiếp 王接 người đời Tây Tấn cho rằng: “Tiếp thường vị “Tả thị” từ nghĩa thiệm phú, tự thị nhất gia thư, bất chủ vị kinh phát; “Công Dương” phụ kinh lập truyện, kinh sở bất thư, truyện bất vọng phát, ư văn vi kiệm, thông kinh vi trưởng.” (接常謂《左氏》辭義贍富,自是一家書,不主為經發;《公羊》附經立傳,經所不書,傳不妄發,於文為儉,通經為長。 – Tiếp tôi thường nói “Tả thị” từ nghĩa phong phú, ấy là một bộ sử của riêng một nhà, không phải vì kinh mà phát thành truyện; “Công Dương” vì để phụ thêm cho kinh mà lập nên truyện, những chỗ kinh không chép, truyện cũng không được nói càn nói thêm, cho nên văn từ kiệm ý, thông với kinh sách là chủ yếu.) Dù hiểu từ phương diện nào thì cũng cho thấy, bản thân của Tả truyện có một giá trị trường cửu, được người đời ca tụng “văn thái nhược vân nguyệt, cao thâm nhược sơn hải” (文采若雲月,高深若山海 – Văn phong đẹp đẽ như trăng trong mây, ý nghĩa cao thâm như biển cùng núi).

Tả truyện chủ yếu ghi chép lại thời suy vi của nhà Chu, lịch sử tranh bá của các nước chư hầu, tất cả các lĩnh vực về lễ nghi quy phạm, điển chương chế độ, xã hội phong tục, các mối quan hệ dân tộc, quan niệm đạo đức, thiên văn địa lý, lịch pháp thời lệnh, văn hiến cổ đại, truyền thuyết thần thoại, ca dao ngôn ngữ… tất cả đều được ghi chép và bình luận một cách tỉ mỉ. Có thể nói đây là một tập văn hiến quan trọng cho nhiều nhà nghiên cứu sử học trong việc nghiên cứu về lịch sử thời Tiên Tần và Xuân Thu. Hơn nữa đây còn là một bộ sử mang khuynh hướng tư tưởng Nho gia cho nên ngoài các vấn đề trên, Tả truyện còn nhấn mạnh đến các vấn đề trật tự giai cấp và luân lý tông pháp, coi trọng tinh thần chính danh, biện biệt giữa trưởng ấu tôn ti, đồng thời thể hiện rõ ràng tư tưởng “dân vi bổn”, tuy có sự đan cài giữa thực và hư nhưng cốt là để tôn cái thực cho nên dầu trong Tả truyện tồn hữu các vấn đề “dự trắc”, “chiêm bốc” nhưng lại phản ánh tính suy vi của xã hội đương thời, lấy như truyện Tấn Cảnh Công hai lần nằm mộng thấy mình phải chết do tính bất nhân và bất nghĩa của y. Tác giả tuy viết về “mộng”, nhưng ông sử dụng những giấc mơ như một phép ẩn dụ cho việc nêu bật tư tưởng “đức trị”. Cảnh Công giết con cháu của Triệu Quát, hồn ma Triệu thị về báo thù, ấy là cái nhân của sự “bất nhân”. Lại giết người vu sư chiếm bói vận mệnh cho mình khi cảm thấy rằng y nói sai, ấy là cái nhân của sự “bất nghĩa”. Từ đó dẫn đến kết cục “thất đức giả tốc vong” 失德者速亡 (Thất đức thì nhanh chết). Chính những ghi chép như vậy không chỉ khiến cho Tả truyện trở nên lý thú mà còn uyển chuyển truyền tải được các giá trị giáo dục cao thâm. Nói như Lương Khải Siêu 梁啟超 thì: “Kì kí ngôn văn uyên ý mỹ mậu sinh khí bột bột, hậu thử diệc đãi vị hữu kì bỉ” (其記言文淵懿美茂生氣勃勃,後此亦殆未有其比 – Ngôn ngữ của nó (Tả truyện) uyên áo đẹp đẽ, phong phú tràn đầy, về sau cũng e chưa chắc có một cuốn sách nào có thể sánh kịp.)

Tóm lại, Tả truyện không những cho thấy được giá trị lịch sử của nó mà còn cho thấy được các giá trị nội hàm từ nội dung, ngôn ngữ, giọng điệu, văn từ và các giá trị nghệ thuật sâu dày ở đó. Từ đó đủ để giúp người ta thấy được bề dày văn hóa Trung Hoa, được bồi tụ bởi một cuốn sử thư ra đời đã mấy ngàn năm nhưng đến nay vẫn còn lưu lại giá trị.

  • Đại cương về Quân lễ trong lịch sử phong kiến Trung Hoa

Vào thời kì phong kiến Trung Hoa, “lễ nghi” là thứ được đặc biệt coi trọng và được người xưa giữ gìn, lưu truyền không chỉ như một chứng tích văn hóa mà còn là một khuôn khổ chuẩn mực cho hậu học noi theo và ứng dụng. Trong số “ngũ lễ” được đề cập trong sách Chu lễ thì Quân lễ là một trong những hình thức lễ nghi chứa đựng độ dày văn hóa chính trị nhất của Trung Hoa. Theo Quách Mạt Nhược 郭沫若 trong cuốn Sưu miêu đích kiểm duyệt 蒐苗的檢閲 đã có nói: “Lấy ví dụ như đời Chu ở nước Trung Quốc ta, một năm bốn mùa đều có rèn luyện về quân sự, thao luyện mùa xuân thì gọi là “chấn lữ” 振旅, thao luyện mùa hạ thì gọi là “bạt xá” 拔舍, thao luyện mùa thu thì gọi là “trị binh” 治兵, thao luyện mùa đông thì gọi là “đại duyệt” 大閲. Tất cả đều được gọi là “quân lễ””. Như vậy từ đây có thể hiểu một cách khái lược, Quân lễ chính là một dạng thức chính trị diễn ra liên tục vào các thời gian trong năm. Hơn hết, đây còn là tấm gương để phản ánh sự thạnh suy của một quốc gia về chính trị xã hội. Chính vì vậy Quân lễ chiếm địa vị khá quan trọng trong việc quản lý của một quốc gia. Quân lễ được phân thành nhiều khía cạnh bao gồm các phương diện như trui rèn ý chí chiến đấu, niềm tin “tất thắng”, nghi lễ “khải hoàn” hoặc “hiến phu” (hiến giặc)… Và mỗi một thời kì lại có một cách gọi và phương thức xếp đặt khác nhau. Song khi xem xét từ nhiều lập trường lịch sử – văn hóa và xã hội thì Quân lễ tại Trung Hoa có những đặc trưng như sau:

  • Thứ nhất, trước khi xuất chinh sẽ có các dạng lễ nghi, cụ thể trong quân ngũ sẽ thực hiện nghi lễ “nghi xã” 宜社, vì mục đích của chiến tranh là để bảo vệ sự an nguy cho lãnh thổ quốc gia cho nên khi xuất chinh phải báo rõ cho thần thánh của cương vực nước ấy ngõ hầu nhận được sự gia hộ của thần linh. Hình thức tế tự của “nghi xã” tương đương như “tế địa” thời Thượng cổ, chủ yếu sẽ chôn vật phẩm, vật tế, ngọc lụa dưới đất, gọi chung là Ế 瘞. Song hành với lễ “nghi xã” cũng sẽ có lễ tế cáo với miếu tiền nhân gọi là “tạo nễ” 造禰 và tế cáo với quân thần, quân kì gọi là “mã tế” 禡祭, đặc biệt khi cử hành phương thức này phải dùng máu vật sống như dê, heo, bò… để rưới lên cờ quân, trống trận, đương thời gọi là “hấn kì cổ” 釁旗鼓 để cầu sự tương trợ của quân thần. Trong chiến trận, cờ là một trong những vật quan trọng nắm vai trò chỉ huy trong binh lính, sẽ điều khiển nhất cử nhất động của binh đoàn cho nên nghi thức này vào thời xưa rất được chú trọng. Ở một số nơi còn gọi lễ tế quân kì là “mã nha” 禡牙 vì bản chất chữ “nha” 牙 vốn là một loại cờ cỡ trung lớn được mang theo khi xuất chinh. Lễ nghi diễn ra trước khi xuất chinh ở mỗi một thời đại lại có những diễn biến khác nhau, đặc biệt đến thời Đường – Tống, phạm vi lễ nghi ngày càng phồn tạp và có xu hướng mở rộng thêm. Chẳng hạn, khi thực hiện lễ “mã nha”, người ta sẽ lấp một đống đất trên đường rồi cắm cành cây, người lái cỗ xe một tay cầm dây cương, một tay cầm chén rượu  đổ vào hai đầu trục xe, lại đổ trên vách ngăn phía trước xe, sau đó nốc hết phần rượu còn lại. Sau ba lần như vậy thì để cỗ xe lăn qua gò đất báo hiệu kết thúc buổi lễ.
  • Thứ hai, sau khi thực hiện các nghi lễ này xong, quân đội sẽ bước vào chiến trận. Đến khi đại quân nếu thắng trận trở về thì sẽ tiến hành lễ “khải hoàn” 凱旋, lúc ấy quân ngũ sẽ tấu khúc khải ca, binh sĩ sẽ cùng xướng khúc hát chiến thắng. Khi đến cổng thành, nếu hoàng đế thân chinh xuất binh thì chúng đại thần sẽ ra nghênh đón, còn nếu binh thần thân chinh thì thiên tử sẽ đích thân hoặc phái sứ giả đến nghênh tiếp nhằm biểu lộ sự ủy lạo. Sau khi vào thành, đoàn quân sẽ đến Thái miếu, Thái xã tế cáo với tổ tiên trời đất, đồng thời thực hiện lễ “hiến tiệp hiến phu”  獻捷獻俘. Hiến tiệp 獻捷 tức là báo cáo tin tức thắng lợi cho tổ tiên, ngõ hầu cảm tạ sự gia hộ của họ. Thời Chu gọi đây là lễ “hiến quắc ư vương” 獻馘于王 (Dâng tai trái cho vua). Trong đó “quắc” 馘 gọi là cái tai bên trái của quân địch bị cắt đi để đem về dâng công. Thời Bắc Ngụy còn có thêm chế độ “tuyên lộ bố” 宣露布. “Lộ bố”  露布 nghĩa chỉ văn thư chưa được niêm phong, văn kiện này thời Ngụy được dùng để bố cáo tin tức chiến thắng. Mỗi khi tiền tuyến báo tin chiến thăng, thì sẽ viết tin đó lên lụa màu, sau đó dựng một cây cột sơn, cột trên đỉnh của cột để báo rõ gần xa với mục đích “bố vu tứ hải, lộ vu nhĩ mục” (布于四海,露于耳目 – Báo cáo đến bốn bể, Cho mắt tai được nghe rõ nhìn rõ).  Hiến phu 獻俘 nghĩa là dâng lên chiến lợi phẩm bao gồm quân giặc và vật phẩm đoạt từ quân giặc để đợi nghe xử lý. Nghi lễ này ở mỗi một triều đại đa phần khá giống nhau, lấy đời Tống làm ví dụ, trước tiên sẽ trói giặc bằng sợi dây trắng, áp giải tới Thái miếu, Thái xã, sau khi thực hiện việc tế cáo với tông linh thì sẽ đưa giặc tới cửa Tuyên Đức. Nếu trong trường hợp đất nước bị thua cuộc thì cũng có nghi thức đầu hàng riêng. Trước hết sẽ dựng ở trước trại bục đầu hàng, trước bục dựng một cột cờ lớn gọi là “phụng chiếu nạp hàng” 奉詔納降 (Theo chiếu đầu hàng). Sau khi báo tin đầu hàng, trống pháo nổi lên, chủ tướng ngồi trước đài bệ, quân thua cuộc quỳ gối dưới đài, dập đầu vâng mệnh. Ngoài ra còn có lễ ân xá cho những người đầu hàng, đồng thời ban thưởng nhất định cho họ.
  • Thứ ba, khi chiến tranh kết thúc, thiên tử sẽ tiến hành luận công phạt tội, lễ này gọi là “ẩm chí” 飲至. Trong lễ này, binh tướng sẽ được vua ban tiệc và luận đến việc thăng quan tiến chức cho người có công và bàn đến việc giáng chức biếm trích cho người có tội. Ban đầu lễ này được tổ chức ở tông miếu, sau này vì tính trang nghiêm nên đã di dời sang hoàng cung chính điện.

Tuy nhiên, không phải lúc nào đất nước cũng có chiến tranh, khi xã hội đương trong thời bình, việc huấn luyện binh lính cũng được thực thi, chủ yếu dưới dạng hoạt động săn bắn để kích thích tinh thần quân sĩ, gọi chung là “điền liệp” 田獵 hoặc “công liệp” 畋獵 hay “thú liệp” 狩獵. Điển hình như thời Xuân Thu, nhà Chu đã phân “điền liệp” thành 4 dạng thuận theo bốn mùa trong năm bao gồm “Xuân sưu” 春蒐, “Hạ miêu” 夏苗, “Thu tiển” 秋獮 và “Đông thú” 冬狩. Lễ “Xuân sưu” 春蒐 vào tháng 2 giữa xuân chủ yếu huấn luyện binh sĩ phương thức điều khiển các tín hiệu thông qua trống, cờ, sáo… nhằm hiểu rõ được các thủ thuật chiến sự như “đứng ngồi”, “tiến lùi”, “tiến công”, “phòng thủ”… Lễ “Hạ miêu” 夏苗 vào tháng 5 giữa hạ chủ yếu tập trung vào việc huấn luyện khả năng ngủ ở nơi hoang dã và kỹ năng và khả năng chiến đấu ban đêm của binh lính; Lễ “Thu tiển” 秋獮 vào tháng 8 giữa thu chủ yếu tập trung vào việc bày binh bố trận và thao tác thực chiến. Lễ “Đông thú” 冬狩 thực hiện vào tháng 11 giữa đông sẽ tập trung đánh giá toàn diện về kết quả huấn luyện của quân đội trong năm qua.

Từ đây có thể thấy, quân lễ là một hoạt động bắt buộc có liên quan đến quân ngũ. Vua lấy lễ để trị quốc, để thiên hạ “đồng quy kì chính”. Cho nên khi tiến hành quân lễ, phải làm sao “dĩ minh hảo ác, thuận bỉ viễn phương” (以明好惡,順彼遠方 – Để làm rõ thiện ác, làm cho nơi xa xôi cũng phải quy thuận). Nói một cách đơn giản, nghi lễ và quân ngũ như hai bánh trong một cỗ xe, không thể thiếu một trong hai. Muốn quân ngũ chỉnh tề phải có nghi lễ tề chỉnh. Ấy cũng là một trong những nguyên tắc quan trọng trong giáo dục của người xưa.

  • Biểu hiện của Quân lễ trong Tả truyện của Tả Khưu Minh

Là một trong những bộ sách ghi lại thời kì chiến loạn Xuân Thu, Tả truyện không chỉ biên soạn một cách tường tận các giá trị lễ nghi đương thời mà còn là nguồn tư liệu phong phú cho các nghiên cứu văn hóa cổ đại nói riêng và Trung Hoa nói chung. Trong số đó, quân lễ là thể hình nghi thức được diễn tả rõ ràng và được tác giả chú trọng giải thích một cách tương đối tỉ mỉ. Như đã thuật ở trên thì quân lễ trong Tả truyện cũng được phân tách thành 3 giai thời bao gồm Chiến tiền 戰前 (Trước khi chiến đấu), Chiến trung 戰中 (Trong khi chiến đấu) và Chiến hậu 戰後 (Sau khi chiến đấu).

  • Chiến tiền 戰前

Theo những ghi chép trong Tả truyện, trước khi tiến hành chiến dịch, quan quân triều đình sẽ thực hiện hai loại nghi lễ chính bao gồm: Thứ nhất, “Cáo miếu” 告廟 tức là báo cáo với tổ tông đời trước mong nhận sự phò trợ của tiền nhân. Trong thiên Chiêu công bát niên 昭公八年 có chép: “Trị binh vu miếu, lễ dã.” (治兵于廟,禮也。 – Duyệt binh trước tông miếu, ấy là lễ vậy.). Thứ hai, “Tế xã” 祭社 tức là tế cáo thần đất mong khi chinh chiến sẽ được bảo hộ. Lễ nghi này thực tế có nguồn gốc từ thời thượng cổ, biểu hiện chính từ chữ “xã” 社. Vốn chữ Hán này là chữ Hội ý, tổ hợp từ hai bộ phận bao gồm bộ Kì ⺭ biểu thị sự cúng tế hoặc liên quan tới thần thánh, chữ “thổ” 土 chỉ đất đai. Nghĩa này thường xuất hiện trong cụm từ “xã tắc” 社稷 trong đó “xã” là thần đất, “tắc” là thần lúa. Trong Tả truyện, vào thời Mẫn Công năm thứ hai, Tấn Hầu sai Thái tử Thân Sinh đi chinh phạt họ Cao Lạc ở Đông Sơn, Lương Dư Tử Dưỡng có nói rằng: “Soái sư giả thụ mệnh ư miếu, thụ thần ư xã, hữu thường phục hĩ.” (帥師者受命于廟,受脤于社,有常服 [1] 矣。 – Người dẫn đầu binh sư nhận mệnh ở tông miếu, nhận thịt tế từ thần đất, phải có thường phục vậy.)

Ngoài hai nghi lễ chính được đề cập ở trên, còn một dạng nghi lễ có hơi hướng “thần học” là “bốc thệ” 卜筮 tức mang nghĩa bói toán, chiêm bói về sự thành bại của trận chiến. Trong đó “bốc” 卜 là dùng mai rùa để bói, còn dùng cỏ thi để bói thì gọi là “thệ” 筮. Căn cứ theo chương Hi công thập ngũ niên 僖公十五年có ghi chép về sự việc này trong trận chiến tại Hàn Nguyên 韓原 giữa Tần và Tấn như sau: Trước trận chiến Tần đã nhờ Bốc Đồ Phụ xem quẻ và “Bốc Đồ Phụ thệ chi, cát” (卜徒父筮之,吉 – Bốc Đồ Phụ coi cỏ thi cho Tần, ra được quẻ tốt). Cũng trong năm thứ 25 thời Hi Công, nước Tấn suy nghĩ đến việc có nên xuất binh chi viện cho vua Chu Tương Vương hay không vì đương thời Tương Vương bị quân Địch đánh bại, lưu lạc ở đất Tỉ 汜của nước Trịnh, mới sai Bốc Yển 卜偃 bói mai rùa thì ra quẻ “cát”, bói cỏ thi thì gặp quẻ Đại hữu 大有 về tới quẻ Khuê 睽 và cũng trở ngược lại Đại hữu 大有, cho quẻ “cát”. Quẻ gốc của việc này vốn là quẻ “Hỏa thiên đại hữu” 火天大有 và quẻ cho ra là “Hỏa trạch khuê” 火澤睽. Ở đây biến hào (chỉ sự biến đổi của hào âm và hào dương trong một quẻ) là hào chín ba, hào từ nói rằng: “Công dụng hanh ư thiên tử, tiểu nhân phất khắc” (公用亨于天子,小人弗剋。- Như bậc công (hầu) nhận tiệc từ thiên tử, hạng tiểu nhân chẳng khắc chế được). Hanh 亨 nghĩa là “hưởng” 享, tương đương với “thông” 通, ý nói công hầu nhận được yến tiệc từ thiên tử, tiểu nhân thì không được. Cho nên quẻ này đối với công hầu mà nói thì vô cùng có lợi, nhưng đối với người thường thì không hẳn có lợi, do đó Hồ Yển 狐偃 mới nói đây là quẻ cát lợi với Tấn Văn Công. Ngoài ra, nói “ ‘Đại hữu’ khứ ‘Khuê’ nhi phục, diệc kì sở dã.” (《大有》去《睽》而復,亦其所也。- “Đại hữu” đến “Khuê” rồi trở về, tức cũng có chỗ về vậy.) tức chỉ nội quái của Đại hữu là “càn” 乾, tức là “trời” (Thiên 天), biến thành nội quái của “khuê” 睽 là “đoài” 兑 tức là “cái đầm” (Trạch 澤), nhưng ngoại quái thì tương đồng, đều là quẻ “li” 離 mà “li” là “mặt trời” (Nhật 日), như vậy nảy sinh hiện tượng trời biến thành đầm trách để đón mặt trời, cũng chính nói thiên tử hạ cố để nghênh đón công hầu. Do đó Tấn Văn Công sau khi nghe xong phân tích của Bốc Yển, yên tâm xuất binh chi viện cho vua Chu. Quả nhiên sau khi nghênh tiếp Chu Tương Vương và nhận được khoản đãi từ ông, Tấn Văn Công đã mở rộng được cương thổ Nam Dương, được Chu vương trao cho bốn mảnh đất Dương Phàn 陽樊, Ôn 溫, Nguyên 原 và Toản Mao 攢茅.

Không chỉ tế cáo tông miếu và tế xã, ngoài việc “bốc thệ” thì trước khi xuất chinh, Tả truyện còn đề cập đến nghi thức “thụ binh” 授兵 và “trị binh” 治兵. Thụ binh tức là chỉ việc phân phát vũ khí chiến đấu, bởi thời Xuân Thu, binh khí được giấu ở kho nhà nước, chỉ khi có chiến sự mới được cấp phát, sau khi chiến cuộc kết thúc phải đem về hoàn trả. Như trong thiên Ẩn công thập nhị niên có chép: “Trịnh Bá tương phạt Hứa. Ngũ nguyệt Giáp Thìn, thụ binh ư đại cung” (鄭伯將伐許。五月甲辰,授兵于大宮。 – Trịnh Bá sắp chinh phạt Hứa. Giáp Thìn tháng 5, cấp phát binh khí ở cung lớn). Còn Trị binh tức là chỉ việc diễn tập quân đội trước khi xung trận. Như thiên Hi công nhị thập thất niên 僖公二十七年 có kể khi nước Sở toan bao vây nước Tống, có phái hai người Tử Văn 子文 và Tử Ngọc 子玉 lần lượt duyệt binh lại đất Khuể 睽 và đất Vị 蒍.

Như vậy có thể nói trước khi xuất trận, lễ nghi được chuẩn bị hết sức chu đáo. Trong Tả truyện nói riêng và thư tịch Trung Quốc cổ đại nói chung, đa phần đều nhấn mạnh vào vấn đề này, tuy mỗi triều đại có một cách diễn đạt danh xưng khác nhau nhưng tựu trung vẫn thể hiện được toàn bộ căn nguyên và diễn trình của các hình thức nghi lễ này.

  •  Chiến trung 戰中

Theo ghi chép trong Tả truyện, trong quá trình xuất binh sẽ cử hành lễ “Chiến đảo” 戰禱. Chiến đảo 戰禱 tức là chỉ việc dùng các đồ vật bằng ngọc để tế bái sông suối, hồ đầm, trời đất và tổ tiên. Mục đích của việc này là để cầu được sự bảo hộ của tổ tiên và thánh thần mong đạt được thắng lợi trong chiến tranh. Trong thiên Tương Công thập bát niên có ghi chép: “Tấn hầu phạt Tề, tương Tế hà, Hiến Tử dĩ châu ti hệ ngọc nhị giác nhi đảo.” (晉侯伐齊,將濟河,獻子以朱絲繫玉二瑴而禱 – Tấn Hầu đi chinh phạt nước Tề, đến sông Tế, Trung Hành Hiến Tử (Cẩu Yển) lấy sợi dây đỏ cột ngọc thành hai viên ngọc dính liền mà cầu đảo) hay trong truyện Tấn Sở Yên Lăng chi chiến 晉楚鄢陵之戰 (Trận chiến Yên Lăng của Tấn – Sở) có chép: “Sở Dư đăng Sào xa, dĩ vọng Tấn quân. Tử Trùng sử Thái tể Bá Châu Lê đãi ư vương hậu. Vương viết: “Sính nhi tả hữu, hà dã? ” Viết: “Triệu quân lại dã. ”“Giai tụ ư trung quân hĩ. ” Viết: “Hợp mưu dã. ” “Trương mán hỹ. ” Viết: “Kiền bốc ư tiên quân dã. ” “Triệt mán hỹ. ” Viết: “Tướng phát mệnh dã. ” “Thậm hiêu, thả trần thượng hỹ.” Viết: “Tướng tắc tỉnh di táo nhi vi hành dã.” “Giai thừa hỹ, tả hữu chấp binh nhi hạ hĩ.” Viết: “Thính thệ dã. Chiến hồ? ” Viết: “Vị khả tri dã.” “Thừa nhi tả hữu giai hạ hĩ.” Viết: “Chiến đảo dã.”” (楚予登巢車 [2],以望晉軍。子重使大宰伯州犁待於王后。王曰:“騁而左右,何也?”曰:“召軍吏也。”“皆聚於中軍 [3]矣。”曰:“合謀也。”“張幕矣。”曰:“虔卜於先君也。”“徹幕矣。”曰:“將發命也。”“甚囂,且塵上矣。”曰:“將塞井夷灶而為行也。”“皆乘矣,左右執兵而下矣。”曰:“聽誓也。“戰乎?”曰:“未可知也。”“乘而左右皆下矣。”曰:“戰禱也。” – Sở Cung Vương lên xe sào, để nhìn động tĩnh quân Tấn. Tử Trọng phái Thái tể Bá Châu Lê hỗ trợ phía sau vua Sở. Vua Sở hỏi rằng: “Quân Tấn cưỡi xe mà chạy xung quanh, ấy cớ làm sao?” Đáp: “Ấy là để triệu tập quan binh.” Vua Sở nói: “Đều tập hợp ở trung quân rồi.” Bá Châu Lê nói: “Đang mở họp bàn mưu rồi.” Vua Sở nói: “Lều đã căng rồi.” Bá Châu Lê nói: “Quân Tấn đang bốc quẻ cát hung ở chỗ tiên quân rồi.” Vua Sở nói: “Đã giở rèm rồi.” Bá Châu Lê nói: “Sắp phát lệnh rồi.” Vua Sở nói: “Cực kì huyên náo, lại bụi bay khắp trần rồi.” Bá Châu Lê nói: “Sắp lấp giếng san bếp và bày xong thế trận rồi.” Sở Vương nói: “Đều đã lên xe, quân tả hữu đã cầm vũ khí và xuống xe rồi”. Bá Châu Lê nói: “Nghe đâu sắp phát bố lời thề.” Vua Sở nói: “Sắp khai chiến rồi chăng?” Đáp: “Chưa thể biết được”. Vua Sở nói: “Lại lên chiến xa rồi mà quân tả hữu lại đều xuống cả.” Bá Châu Lê nói: “Đấy là làm lễ Chiến đảo vậy.) Từ đoạn văn trên, chúng ta có thể thấy được quy trình của nghi lễ này, đồng thời hiểu được văn hóa tinh thần của người Trung Hoa cổ đại khi thực hiện quân lễ nói riêng và các nghi thức nói chung.

Ngoài ra, từ đoạn văn trên, người đọc còn thấy được nghi lễ “thệ sư” 誓師 và “thị sư” 視師. Thệ sư 誓師 là một nghi lễ được thực hiện trước trận chiến giữa hai đội quân từ xa xưa với mục đích động viên tinh thần của binh lính. Còn Thị sư 視師 tức là quan sát tình hình quân của mình trước trận chiến để thám thính sự mạnh yếu của quân đối phương. Vào năm thứ 15 thời Hi Công, Tấn Hầu muốn đánh nhau với quân Tần, mới cho Hàn Giản thực hiện nghi thức “thị sư”. Hàn Giản lại nói rằng: “Sư thiểu ư ngã, đấu sĩ bội ngã.” (師少于我,鬥士倍我。” – Quân đội tuy ít hơn ta nhưng số người có khả năng chiến đấu lại gấp đôi ta.) Khi vua hỏi thì ông ta lại đáp rằng: “Xuất nhân kỳ tư, nhập dụng kỳ sủng. Cơ thực kỳ túc, tam thi nhi vô báo, thị dĩ lai dã. Kim hựu kích chi, ngã đãi tần phấn, bội do vị dã.” (出因其資,入用其寵。飢食其粟,三施而無報,是以來也。今又擊之,我怠秦奮,倍猶未也。- Vua thoát được đó là nhờ sự tư trợ của họ, trở về nước được cũng là nhờ ân huệ của họ. Khi đói khát thì ăn thóc của họ, nhận lấy 3 lần rồi nhưng chẳng báo đáp gì, cho nên họ mới tới đây. Nay lại muốn tấn công họ, bên ta thì lười nhác, bên Tần thì phấn chấn, sĩ khí tuy gấp bội nhưng vẫn chưa dừng lại đâu.) Như vậy từ việc “thị sư” cho thấy quân Tấn Huệ Công lúc ấy không đủ để đánh bại vua Tần, chưa kể vua Tấn là người bội nghĩa phản phúc, nên thất bại là điều hẳn nhiên. Như vậy trong quá trình xuất chinh, các lễ nghi như “chiến đảo”, “thệ sư” và “thị sư” không chỉ góp phần củng cố sĩ khí của quân lính mà hơn hết còn thể hiện được tinh thần “biết người biết ta”, suy xét tận cùng sự mạnh yếu để đạt được chiến công nhất định. Ấy cũng chính là tiền đề để những chiến cuộc sau này ước lượng và noi theo.

  • Chiến hậu 戰後

Như đã đề cập ở trên, sau chiến cuộc trở về, nếu thắng cuộc sẽ thực hiện một loạt các nghi lễ ăn mừng thắng lợi, nước chiến thắng sẽ dâng tù binh và chiến lợi phẩm đến tế cáo trước thần linh, để cảm tạ sự che chở của tổ tiên và thánh thần. Dạng nghi lễ này cũng được gọi là “hiến tiệp” 獻捷 như đã phân tích ở trên. Như trong thiên Chiêu công thập niên có ghi chép: “Thu thất nguyệt, Bình tử phạt Cử, thủ Cánh, hiến phu, thủy dụng nhân ư , thủy dụng nhân ư Bạc xã.” (秋七月,平子伐莒,取郠,獻俘,始用人于亳社。 – Tháng 7 mùa thu, Bình Tử chinh phạt nước Cử, lấy được vùng Cánh địa, dâng tù binh, ban đầu dùng người tế tự ở xã Bạc.) Sau khi tế tự trở về thì vua nước đó sẽ đãi tiệc binh sĩ, chúc mừng thắng lợi, ấy gọi là lễ “ẩm chí” 飲至 cũng như trên đã đề cập. Ví như trong trận chiến Thành Bộc của Tấn – Sở, sau khi nước Tấn đại thắng nước Sở trở về, vua nước Tấn đã “ẩm chí, đại thưởng, trưng hội thảo nhị” (飲至、大賞,徵會討貳 – Làm tiệc linh đình, thưởng lớn, lại tụ tập binh sĩ phạt người có tội). Không chỉ như vậy, nước bại trận cũng phải hành lễ “thụ hàng” với nước thắng trận, đền bù theo lễ. Như thiên Chiêu công tứ niên 昭公四年 có chép chuyện Lại Tử 賴子 vào thụ hàng nước Sở như sau: “Lại Tử diện phược hàm bích, sĩ đản, dư sấn tòng chi, tháo vu trung quân.” (賴子面縛銜璧,士袒,輿櫬從之 [4],造于中軍。 – Lại Tử tự chịu trói quặt hai tay ra sau lưng, trầy vai áo ra, theo xe chở linh cữu, đến chỗ trung quân.) Lại như năm Tuyên Công thứ 12 có chép, nước Sở bao vậy nước Trịnh, sau ba tháng ròng rã đã khắc chế được Trịnh quốc, vua nước Trịnh phải cởi trần áo, kéo dê đứng bên đường cung nghinh Sở Trang Vương, hành lễ của nước chiến bại. Khi quốc gia thua cuộc đứng hành lễ, vua thì thường trong hình thế “diện phược” 面縛, “thiết bích” 銜璧, “nhục đản khiên dương” 肉袒牽羊 còn kẻ bề tôi thì “dư thân” 輿櫬 để thực hiện “tang lễ” 葬禮 sau khi xử trảm.

Như vậy từ đây có thể thấy giữa nước thắng trận và nước bại trận vẫn tồn tại các dạng thức nghi lễ khác nhau, chủ yếu nước bại trận sẽ chịu quy hàng và thực hiện nghi thức theo điều khiển của nước thắng trận. Riêng nước thắng trận cũng sẽ thi hành các dạng nghi lễ khác nhau tùy vào tình hình chiến cuộc đương thời như thế nào. Song chung quy, có thể thấy việc thực hiện các nghi lễ theo sát từng giai đoạn của cuộc chiến đã cho thấy được tính vĩ mô văn hóa và cái nhìn trọng lễ của người xưa. Không những vậy thông qua đó,  người đọc còn hiểu được các giá trị tinh thần của Trung Hoa cổ đại, từ đó tiến sâu vào nghiên cứu lịch sử, đồng thời mở rộng khuynh hướng tìm hiểu để phục vụ các lý luận quân sự nói riêng và lý luận văn hóa nói chung.

 Tổng kết

Tóm lại, Tả truyện không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về các loại hình quân lễ mà còn giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về tổ chức quân đội và các hoạt động quân sự trong thời kỳ Xuân Thu, đóng góp khá lớn vào việc nghiên cứu văn hóa, quân sự và lịch sử nói chung của Trung Quốc cổ đại. Đồng thời, các mô tả trong Tả truyện còn phản ánh rõ nét về tình hình chính trị, xã hội đương thời. Từ các nghi lễ quân sự, có thể thấy được mức độ tôn trọng đối với quyền lực và uy tín của các vị lãnh đạo quân đội, cũng như các phong tục tập quán trong giao tế của quân ngũ. Không chỉ như vậy, việc nghiên cứu các dạng quân lễ trong Tả truyện, trong thế đối sánh với các tác phẩm lịch sử và văn học khác của Trung Hoa, giúp các nhà nghiên cứu định hình được vấn đề về tính ổn định chính trị và xã hội của thời kỳ đó bởi các nghi lễ quân sự thường phản ánh tính ổn định hóa và tính cố định quyền lực của triều đình, cũng như cách thức quản lý và tổ chức xã hội. Hơn hết, không chỉ mở rộng các khuynh hướng nghiên cứu sử học mà còn tạo tiền đề cho lý thuyết quân sự cổ đại ra đời. Như vậy có thể thấy, việc nghiên cứu các loại hình quân lễ trong Tả truyện không chỉ giúp khám phá những khía cạnh văn hóa và lịch sử quan trọng mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự ổn định và cấu trúc xã hội của thời kỳ Xuân Thu.

Chú thích

[1] Thường phục 常服: Chỉ chế phục mà quân đội mặc vào thời cổ đại.  Mao Hanh 毛亨 nói rằng: “Thường phục, nhung phục dã.” (常服,戎服也。- Thường phục, chỉ đồ đi đánh trận.)

[2] Sào xa 巢車: Tên một thứ xe dùng trong quân đội thời cổ, trên xe đựng cột cao, đầu cột là cái chòi nhỏ, lính leo lên đó để quan sát tình hình quân địch.

[3] Thời xưa, quân đội tổ chức thành tam quân 三軍 gồm: trung quân, tả quân và hữu quân (中軍, 左軍, 右軍). Hoặc thượng quân, trung quân và hạ quân (上軍, 中軍, 下軍) hoặc chỉ Dinh trại ở giữa của chủ súy.

[4] Khi tù binh bị bắt, sẽ mang quan tài theo cùng, biểu thị người đó đáng tội chết và sẽ bị hành quyết, quan tài có sẵn với mục đích sau khi xử trảm thì bỏ tù binh vào hòm.

Tài liệu tham khảo

1. 蔣孟潔(2020)。“貴族之戰:《左傳》軍禮審美研究”。I206.2 (文學評論和研究)。南京師范大學。

2. 許子濱 (1998)。“《左傳》禮製與“三禮”有合有不合說”。《人文中國學報》。

3. 杨茂义 (2015)。 “《左传》之礼研究”。中国:社会科学出版社。

DỊCH THUẬT: MỘT SỐ BÀI TẢN VĂN CỦA CÁC VĂN SĨ TRONG ĐƯỜNG TỐNG BÁT ĐẠI GIA (PHẦN 1)

Đường Tống bát đại gia, là danh xưng chung chỉ tám vị văn sĩ chuyên cổ văn nổi danh, gồm hai vị Hàn DũLiễu Tông Nguyên đời Đường và sáu vị đời Tống gồm Âu Dương TuTô Tuân,  Tô ThứcTô TriệtTăng Củng,Vương An Thạch. Người đầu tiên gộp chung tám vị là Chu Hữu thời Minh sơ, tập hợp văn bài của hai vị Hàn, Liễu cùng các bài ông cho là ngang hàng kết tập thành quyển “Bát tiên sinh văn quyển”. Sau, thời Minh trung có thêm Đường Thuận Chi soạn “Văn Biên”, cũng lấy văn của tám vị trên làm chuẩn cho Đường Tống. Minh mạt có thêm Mao Khôn theo ý hai vị Chu, Đường, tập hợp văn chương lưu lại của 8 vị kể trên thành quyển “Đường Tống bát đại gia văn sao”, từ đó định thành danh “Đường Tống bát đại gia”.

方山子傳 (蘇軾) – Phương Sơn Tử truyện – Tô Thức

Chân dung Tô Thức

Tô Thức 蘇軾 (1037-1101) tự Tử Chiêm 子瞻, Hoà Trọng 和仲, hiệu Đông Pha cư sĩ 東坡居士, người đời thường gọi là Tô Đông Pha 蘇東坡, thuỵ Văn Trung 文忠, người My Sơn (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Ông từng làm quan Thông phán, Thái thú. Cha là Tô Tuân, em là Tô Triệt, đều là các đại gia thi văn, đương thời người ta gọi là Tam Tô. Thái độ của ông tiêu diêu tự tại, lạc quan phấn chấn, tuy thăng giáng nhiều lần trên con đường hoạn lộ song ông vẫn phó mặc tự tại, đọc sách làm vui và là người giàu tình cảm, cho nên cuộc đời của ông vừa hào phóng lại vừa tình tứ. Ông là người có nhiều tác phẩm phổ biến và được người đời lưu truyền nhất trong Đường Tống bát đại gia, mặc dù là một Nho sĩ nhưng ông thấu rất sâu tinh thần Phật, Lão. Ông sáng tác được 4000 bài thơ, 300 bài từ, tản văn rất nhiều bày hay (như Phóng Hạc đình ký, Tiền Xích Bích phú, Hậu Xích Bích phú, v.v…). Tác phẩm ông lưu lại có bộ Đông Pha văn tập 60 quyển, bộ Đông Pha thi tập 25 quyển, bộ Đông Pha từ 1 quyển, bộ Cửu Trì bút ký 2 quyển, bộ Đông Pha chí lâm 5 quyển. Ngoài ra, vâng lời dặn dò của cha lúc lâm chung, ông viết tiếp cuốn Dịch truyện mà cha bỏ dở, rồi viết thêm những cuốn: Luận ngữ thuyết, Thư truyện để truyền bá đạo Khổng. Bài tản văn Phương Sơn Tử truyện thể hiện tinh thần tự do tự tại, thuận theo tự nhiên trên tinh thần Lão – Trang, qua nhân vật Phương Sơn Tử, ta thấy được cách sống cũng như cách tư duy của Tô Thức trong thời kỳ biến động của con đường quan trường.

方山子,光、黃間隱人也。少時慕朱家、郭解爲人,閭里之俠皆宗之。稍壯,折節讀書,欲以此馳騁當世,然終不遇。晚乃遁於光、黃間,曰岐亭。庵居蔬食,不與世相聞。棄車馬,毀冠服,徒步往來山中,人莫識也。見其所著帽,方聳而高,曰:“此豈古方山冠之遺象乎?”因謂之方山子。餘謫居於黃,過岐亭,適見焉。曰:“嗚呼!此吾故人陳慥季常也。何爲而在此?”方山子亦矍然,問餘所以至此者。餘告之故。俯而不答,仰而笑,呼餘宿其家。環堵蕭然,而妻子奴婢皆有自得之意。 餘既聳然異之。獨念方山子少時,使酒好劍,用財如糞土。前十九年,餘在岐山,見方山子從兩騎,挾二矢,遊西山。鵲起於前,使騎逐而射之,不獲。方山子怒馬獨出,一發得之。因與餘馬上論用兵及古今成敗,自謂一世豪士。今幾日耳,精悍之色猶見於眉間,而豈山中之人哉? 然方山子世有勳閥,當得官,使從事於其間,今已顯聞。而其家在洛陽,園宅壯麗與公侯等。河北有田,歲得帛千匹,亦足以富樂。皆棄不取,獨來窮山中,此豈無得而然哉? 餘聞光、黃間多異人,往往陽狂垢污,不可得而見。方山子倘見之歟?

Phiên âm: Phương Sơn Tử, Quang, Hoàng gian ẩn nhân dã. Thiếu thời mộ Chu gia, Quách Giải vi nhân, lư lí chi hiệp giai tông chi. Sảo tráng, chiết tiết độc thư, dục dĩ thử trì sính đương thế, nhiên chung bất ngộ. Vãn nãi độn ư Quang, Hoàng gian, viết Kì Đình. Am cư sơ thực, bất dữ thế tương văn. Khí xa mã, hủy quan phục, đồ bộ vãng lai sơn trung, nhân mạc thức dã. Kiến kỳ sở trước mạo, phương tủng nhi cao, viết: “Thử khởi cổ Phương sơn quan chi di tượng hồ?” Nhân vị chi Phương Sơn Tử. Dư trích cư ư Hoàng, quá Kì Đình, thích kiến yên. Viết: “Ô hô! Thử ngô cố nhân Trần Tháo Quí Thường dã. Hà vi nhi tại thử?” Phương Sơn tử diệc quắc nhiên, vấn dư sở dĩ chỉ thử giả. Dư cáo chi cố. Phủ nhi bất đáp, ngưỡng nhi tiếu, hô dư túc kỳ gia. Hoàn đổ tiêu nhiên, nhi thê tử nô tì giai hữu tự đắc chi ý.

Phương Sơn Tử

Dư kí tủng nhiên dị chi, độc niệm Phương Sơn tử thiếu thời, sử tửu hiếu kiếm, dụng tài như phẩn thổ. Tiền thập cửu niên, dư tại Kì Sơn, kiến Phương Sơn tử tòng lưỡng kị, hiệp nhị thỉ, du Tây Sơn. Thước khởi ư tiền, sử kị trục nhi xạ chi, bất hoạch. Phương Sơn tử nộ mã độc sơn, nhất phát đắc chi. Nhân dữ dư mã thượng luận dụng binh cập cổ kim thành bại, tự vị nhất thế hào sĩ. Kim kỉ nhật nhĩ, tinh hãn chi sắc do kiến ư mi gian, nhi khởi sơn trung chi nhân tai? Nhiên Phương Sơn tử thế hữu huân phiệt, đương đắc quan, sử tòng sự ư kỳ gian, kim dĩ hiển văn. Nhi kỳ gia tại Lạc Dương, viên trạch tráng lệ dữ công hầu đẳng. Hà Bắc hữu điền, tuế đắc bạch thiên thất, diệc túc dĩ phú lạc. Giai khí bất thủ, độc lai cùng sơn trung, thử khởi vô đắc nhi nhiên tai? Dư văn Quang, Hoành gian đa dị nhân, vãng vãng dương cuồng cấu ô, bất khả đắc nhi kiến. Phương Sơn tử thảng kiến chi dư? 

Dịch nghĩa: Phương Sơn tử là người ẩn cử ở giữa hai miền Quang, Hoàng. Thuở thiếu thời hâm mộ những người như Chu gia, Quách Giải, bọn hiệp sĩ trong làng đều tôn sùng ông. Sau khi lớn lên được một chút, từ bỏ chí hướng cũ mà bắt đầu học hành, muốn lấy đó mà rong ruổi với đời (thi triển những mong mỏi với đời), song rốt cuộc chẳng gặp vận (được trọng dụng). Do đó lúc về già bèn ẩn cử ở giữa hai miền Quang, Hoàng gọi là Kì Đình. Ở trong am ăn rau cỏ, không giao thiệp gì nữa với người đời. Vứt ngựa xe, bỏ mũ áo, đi bộ vãng lai ở trong núi, người trong núi không một ai biết ông. Thấy mũ mão ông đội, chóp mũ hình vuông mà cao vọt lên, nói rằng: “Đây phải chăng là kiểu mũ Phương sơn thời xưa còn lưu lại đấy chăng?” Nhân đó mà gọi ông là Phương Sơn tử. Ta bị biếm trích ở lại châu Hoàng, đi qua Kì Đình, vừa may gặp ông. Nói rằng: “Than ôi! Người bạn già Trần Tháo Quý Thường của tôi đây mà, cớ sao mà ông lại ở đây?” Phương Sơn tử cũng kinh ngạc hỏi tôi cớ sao lại đến nơi này. Tôi kể (rõ) nguyên do cho ông ta. Y cúi đầu không đáp, sau ngửng đầu lên mà cười, kêu tôi về nghỉ ở nhà ông, tường nát vách xiêu, thế mà vợ con tì tất vẫn đều có ý tự đắc (vui vẻ).

Ta ngạc nhiên và lấy làm lạ, trong tâm nhớ lại Phương Sơn tử hồi trẻ, ham uống rượu (tùy hứng), giỏi múa kiếm, dùng tiền như đất cát. 19 năm trước, ta ở dưới chân núi Kỳ (Phong Tường), thấy Phương Sơn tử có hai hai người cưỡi ngựa theo sau, cầm hai mũi tên, đi chơi ở Tây Sơn, chim khách bay ở phía trước, ông sai người cưỡi ngựa đuổi theo và bắn nó, không trúng, Phương Sơn tử quất ngựa tự mình tiến lên, một phát trúng phóc. Nhân đó, ông với tôi ngồi trên lưng ngựa luận phép dùng binh và chuyện thành bại xưa nay, tôi tự cho ông là một bậc hào kiệt ở đời. (Việc ấy) tính đến nay chỉ như mới mấy ngày trôi qua thôi, (thế mà) sắc diện tinh anh dũng mãnh, hãy còn thấy ở trên nét ngài, có vẻ gì (sao có thể) là ẩn sĩ trong núi đâu (được)? Thế nhưng Phương Sơn tử là dòng dõi công thần thế gia (gia đình Phương Sơn tử từ thế hệ này sang thế hệ khác là những người có công lao), đáng lẽ là được làm quan, nếu ông tòng sự từ lúc đó, nay đã vinh hiển vang danh. Song gia đình ông ở Lạc Dương, vườn tược phòng ốc tráng lệ ngang bằng với bậc công hầu. Hà Bắc có ruộng, mỗi năm thu được ngàn tấm lụa, (nhiêu đó) cũng đủ để ông giàu sang vui sướng. (Thế nhưng) Ông đều bỏ đi chẳng lấy, một mình đến trong chốn thâm sơn cùng cốc, việc này há nếu không có điều sở đắc thì có thể được như thế chăng?

Ta nghe ở hai vùng Quang, Hoàng có nhiều dị nhân, thường thường giả điên bôi nhọ mình, (người thường) không thể thấy được họ. Phương Sơn tử có lẽ vô tình thấy được họ chăng?

梅聖俞詩集序 (歐陽修)(Mai Thánh Du thi tập tự – Bài tự cho tập thơ Mai Thánh Du của Âu Dương Tu)

Chân dung Âu Dương Tu

Âu Dương Tu 歐陽修 (1007-1072) tự Vĩnh Thúc 永叔, hiệu Tuý ông 醉翁, Lục Nhất cư sĩ 六一居士, thuỵ hiệu Văn Trung 文忠, người huyện Lư Lăng tỉnh Giang Tây, ông là một vị cổ văn gia, lịch sử học gia có tiếng, lại là một thi nhân uyên bác, tài tình, có nhiều tác phẩm để đời. Ông hiện còn lại Lục nhất từ 3 quyển. Âu Dương Tu làm quan địa phương hơn 10 năm trời. Sau Tống Nhân Tông vì quá mến mộ văn tài nên mới triệu ông về kinh thành, phong làm Hàn lâm học sĩ. Sau khi nhận chức, Âu Dương Tu ra sức đề xướng việc cải cách văn phong. Một lần, kinh thành tổ chức khoa thi tiến sĩ, ông được cử làm chủ khảo. Thấy đây là 1 cơ hội để cải cách văn phong lựa chọn nhân tài. Âu Dương Tu đọc kĩ các quyển thi, thấy quyển nào chỉ có hình thức hào nhoáng mà nội dung trống rỗng thì đánh trượt hết. Kết quả khóa thi, một số người không đỗ rất căm tức Âu Dương Tu. Một hôm, ông cưỡi ngựa đi đi ra đường, bị 1 đám thí sinh bị đánh trượt ngăn lại, ồn ào chửi mắng và gây sự. Sau nhờ có lính tuần tra đến giải tán, ông mới được vô sự. Thời gian ở Từ Châu, ngoài những giờ làm việc quan, Âu Dương Tu thường thích cùng bạn chúng du sơn lãm thủy. Trên Lang Nha Sơn có một toà đình làm nơi nghỉ cho du khách. Âu Dương Tu thường tới tòa đỉnh đó uống rượu. Ông tự xưng là “Túy ông” (ông già say) và đặt tên cho tòa đình đó là “Túy Ông đình”. Bài tản văn “Túy Ông đình ký” của ông là 1 kiệt tác được người đời truyền tụng. Bài tản văn Mai Thánh Du thi tập tự nói về người bạn thơ tài hoa Mai Thánh Du của ông, qua đó thể hiện rõ cái nhìn của ông về thơ và quan điểm cách tân thơ trong tư tưởng của ông.

予聞世謂詩人少達而多窮,夫豈然哉?蓋世所傳詩者,多出於古窮人之辭也。凡士之蘊其所有,而不得施於世者,多喜自放于山巔水涯之外,見蟲魚草木風雲鳥獸之狀類,往往探其奇怪,內有憂思感憤之鬱積,其興於怨刺,以道羈臣寡婦之所嘆,而寫人情之難言。蓋愈窮則愈工。然則非詩之能窮人,殆窮者而後工也。 予友梅聖俞,少以蔭補爲吏,累舉進士,輒抑於有司,困於州縣,凡十餘年。年今五十,猶從辟書,爲人之佐,鬱其所蓄,不得奮見於事業。其家宛陵,幼習於詩,自爲童子,出語已驚其長老。既長,學乎”六經”仁義之說,其爲文章,簡古純粹,不求苟說於世。世之人徒知其詩而已。然時無賢愚,語詩者必求之聖俞;聖俞亦自以其不得志者,樂於詩而發之,故其平生所作,於詩尤多。世既知之矣,而未有薦於上者。 昔王文康公嘗見而嘆曰:“二百年無此作矣!”雖知之深,亦不果薦也。若使其幸得用於朝廷,作爲雅、頌,以歌詠大宋之功德,薦之清廟,而追商、周、魯頌之作者,豈不偉歟!奈何使其老不得志,而爲窮者之詩,乃徒發於蟲魚物類,羈愁感嘆之言。世徒喜其工,不知其窮之久而將老也!可不惜哉! 聖俞詩既多,不自收拾。其妻之兄子謝景初,懼其多而易失也,取其自洛陽至於吳興以來所作,次爲十卷。予嘗嗜聖俞詩,而患不能盡得之,遽喜謝氏之能類次也,輒序而藏之。其後十五年,聖俞以疾卒於京師,餘既哭而銘之,因索於其家,得其遺稿千餘篇,並舊所藏,掇其尤者六百七十七篇,爲一十五卷。嗚呼!吾於聖俞詩論之詳矣,故不復云。廬陵歐陽修序。

Phiên âm: Dư văn thế vị thi nhân thiểu đạt nhi đa cùng, phù khởi nhiên tai? Cái thế sở truyền thi giả, đa xuất ư cổ cùng nhân chi từ dã. Phàm sĩ chi uẩn kỳ sở hữu, nhi bất đắc thi ư thế giả, đa hỉ tự phóng vu sơn điên thủy nhai chi ngoại, kiến trùng ngư thảo mộc phong vân điểu thú chi trạng loại, vãng vãng thám kì kì quái, nội hữu ưu tư cảm phẫn chi uất tích, kỳ hưng ư oán thứ, dĩ đạo ki quần quả phụ chi sở thán, nhi tả nhân tình chi nan ngôn. Cái dũ cùng tắc dũ công. Nhiên tắc phi thi chi năng cùng nhân, đãi cùng giả nhi hậu công dã. Dư hữu Mai Thánh Du, thiếu dĩ ấm bổ vi lại, lũy cử tiến sĩ, triếp ức vu hữu tư, khốn ư châu huyện, phàm thập dư niên. Niên kim ngũ thập, do tòng tích thư, vi nhân chi tá, uất kỳ sở súc, bất đắc phấn kiến ư sự nghiệp. Kỳ gia Uyển Lăng, ấu tập ư thi, tự vi đồng tử, xuất ngữ dĩ kinh kỳ trưởng lão. Kí trường, học hồ “lục kinh” nhân nghĩa chi thuyết, kỳ vi văn chương, giản cổ thuần túy, bất cầu cẩu thuyết ư thế. Thế chi nhân đồ tri kỳ thi nhi dĩ. Nhiên thời vô hiền ngu, ngứ thi giả tất cầu chi Thánh Du; Thánh Du diệc tự dĩ kì bất đắc chí giả, nhạo ư thi nhi phát chi, cố kỳ bình sinh sở tác, ư thi vưu đa. Thế kí tri chi hỹ, nhi vị hữu tiến ư thượng giả. Tích Vương Văn Khang công thường kiến nhi thán viết: “Nhị bách niên vô thử tác hỹ!” Tuy tri chi thâm, diệc bất quả tiến dã. Nhược sử kỳ hạnh đắc dụng ư triều đình, tác vi nhã, tụng, dĩ ca vịnh Đại Tống chi công đức, tiến chi Thanh miếu, nhi truy Thương, Chu, Lỗ tụng chi tác giả, khởi bất vĩ dư! Nại hà sử kỳ lão bất đắc chí, nhi vi cùng giả chi thi, nãi đồ phát ư trùng ngư vật loại, ki sầu cảm thán chi ngôn. Thế đồ hỉ kỳ công, bất tri kỳ cùng chi cửu nhi tương lão dã! Khả bất tích tai! Thánh Du thi kí đa, bất tự thu thập. Kì thê chi huynh tử Tạ Cảnh Sơ, cụ kỳ đa nhi dị thất dã, thủ kỳ tự Lạc Dương chi Ngô Hưng dĩ lai sở tác, thứ vi thập quyển. Dư thượng thị Thánh Du thi, nhi hoạn bất năng tận đắc chi, cự hỉ Tạ thị chi năng loại thứ dã, triếp tự nhi tàng chi. Kỳ hậu thập ngũ niên, Thánh Du dĩ tật tốt ư kinh sư, dư ký khốc nhi minh chi, nhân sách ư kỳ gia, đắc kỳ di cảo thiên dư thiên, tịnh cựu sở tàng, xuyết kỳ vưu giả lục bách thất thập thất thiên, vi nhất thập ngũ quyển. Ô hô! Ngô ư Thánh Du thi luận chi tường hỹ, cố bất phục vân. Lư Lăng Âu Dương Tu tự.

Dịch nghĩa: Ta nghe người đời nói rằng thi nhân rất ít người hiển đạt mà nhiều kẻ khốn cùng, ôi há như thế chăng? Bởi vì những bài thơ được lưu truyền trên đời, đa phần khởi sinh từ văn chương của những nhà thơ cùng khổ ngày xưa. Phàm những uẩn ức, những điều mà kẻ sĩ có được (tài học và lý tưởng) mà không được thi hành ở trên đời đều vui vẻ phóng tứ bản thân ở ngoài cõi non xanh nước biếc, ngắm nhìn hình dáng các loài sâu cá cỏ cây mây gió chim muông, thường hay tìm tòi những điều kì quái trong đó, trong lòng tích chứa nỗi ưu tư và căm phẫn, chính điều đó sẽ dấy lên nỗi oán hận, châm biếm (trong thơ), để nói ra nỗi ai oán của người quả phụ, của kẻ bề tôi nơi đất khách, mà viết về những thứ khó nói trong cõi nhân tình, đại khái nhà thơ càng khốn đốn thì thơ văn càng hay. Như thế thì không phải làm thơ có thể khiến cho nhà thơ cùng khổ mà chắc mẩm người trong cảnh khốn cùng thì sau thơ mới khéo hay.

Bạn ta là Mai Thánh Du, thuở nhỏ nhờ âm đức tổ tiên mà được bổ làm quan lại, nhiều lần tham gia thi tiến sĩ, mỗi lần (như thế) đều bị quan chủ khảo đánh rớt, chỉ làm chức quan nhỏ ở châu huyện, tất thảy đã hơn mười năm. Tuổi nay đã năm mươi, mà hãy còn nhận thư mời, làm phụ tá cho người khác, uất hận vì tài năng uẩn súc trong lòng mình không phát huy được trong sự nghiệp. Gia đình ông ở Uyển Lăng, hồi nhỏ tập tành làm thơ, từ lúc còn bé, lời thơ làm ra đã khiến cho các bậc trưởng bối phải kinh ngạc. Sau khi lớn lên, học các thuyết nhân nghĩa ở trong Lục Kinh, ông làm văn thơ, lời lẽ súc tích, cổ kính, thuần túy, không truy cầu sự cẩu thả a dua làm vui (chiều theo thị hiếu) người đời. Người đời chỉ biết ông có làm thơ mà thôi. Nhưng lúc ấy (khi nói đến thơ) bất luận là người hiền kẻ ngu, người bàn về thơ đều phải cầu cạnh Thánh Du; Thánh Du cũng cam lòng với nỗi bất đắc chí của mình, thích làm thơ để giải tỏ lòng mình, cho nên bình sinh những tác phẩm ông viết, (đặc biệt) về mặt thơ ca cực kỳ nhiều. Người đời đã biết đến ông rồi mà chưa có ai tiến cử ông với người trên (triều đình) cả. 

Xưa ông Vương Văn Khang từng xem thơ ông mà than rằng: “Hai trăm năm nay chưa từng có tác phẩm nào như vậy!” Tuy (Văn Khang) biết ông rất rõ (đánh giá ông (Thánh Du) rất cao) song cũng không thể tiến cử ông được. Giả sử ông may mắn được triều đình ủy nhiệm (trọng dụng), làm những bài “Nhã”, “Tụng” để ca vịnh công đức Đại Tống, được tiến cử vào Thanh miếu (Tông miếu), mà nối gót các tác giả soạn bài tụng của Thương, Chu, Lỗ, há chẳng vĩ đại ư! Làm sao cứ khiến cho ông đến lúc già rồi vẫn bất đắc chí, mà phải làm những bài thơ của kẻ khốn cùng, mà chỉ thốt ra những lời u hoài thương cảm, các giống trùng bọ cá nước? Người đời chỉ thích cái tinh xảo trong thơ ông (khen thơ ông hay) chứ không biết ông cùng khốn đã lâu mà sắp già rồi vậy! Có thể chẳng đáng tiếc lắm ư!

Thơ của Thánh Du đã nhiều mà ông không chịu tự mình thu thập lại. Anh trai của vợ ông là Tạ Cảnh Sơ, sợ rằng thơ ông nhiều thì dễ bị thất lạc, (bèn) lấy những bài thơ ông làm từ khi ở Lạc Dương đến Ngô Hưng trở đi, biên thành mười quyển. Ta từng rất thích thơ của Thánh Du, mà lo không thể tìm được hết, hốt nhiên mừng rỡ vì họ Tạ có thể phân loại, sắp đặt, (ta cảm thấy xúc động) bèn viết bài tự xong rồi cất nó đi.

Mười lăm năm sau, Thánh Du vì bị bệnh mà chết ở kinh sư, ta đã đến khóc điếu mà viết cho ông bài minh, nhân đó tìm tòi ở trong nhà ông, thấy được cuốn di cảo hơn nghìn thiên, kể cả những bài ông cất đi lúc trước, chọn lựa những bài hay nhất trong số đó được 677 thiên, làm thành 15 quyển. Than ôi! Ta đã bàn kĩ về thơ của Thánh Du rồi, cho nên không nói lại nữa. Âu Dương Tu ở Lư Lăng viết bài tự.

Nguyễn Thanh Lộc dịch

Nguồn: Ngô Sở Tài, Ngô Điều Hậu biên tập, Nhóm Lý Mộng Sinh, Sử Lương Chiếu chú thích (2001), Cổ văn quan chỉ thích chú (Quyển thượng), Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã xuất bản, Thượng Hải.