DỊCH “VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC” SANG HÁN VĂN – 芹𣨧義士祭文

1. Nguyên văn: Hỡi ơi!

Dịch cổ văn: 嗚呼!

Phiên âm: Ô hô

2. Nguyên văn: Súng giặc đất rền; Lòng dân trời tỏ.

Dịch cổ văn: 夷炮震地,民心昭天。

Phiên âm: Di pháo chấn địa, dân tâm chiêu thiên.

3. Nguyên văn: Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Dịch cổ văn: 十載耕鋤之苦,未必聲傳若浮標;

Phiên âm: Thập tải canh sừ chi khổ, vị tất thanh truyền nhược phù tiêu;

Nguyên văn: Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ.

Dịch cổ văn: 一朝戰法之功,雖殂名動如鋌鐸。

Phiên âm: Nhất triêu chiến Pháp chi công, tuy tồ danh động như đĩnh đạc.

4. Nguyên văn: Nhớ linh xưa:

Dịch cổ văn: 念英靈之往日:

Phiên âm: Niệm anh linh chi vãng nhật:

5. Nguyên văn: Cui cút làm ăn; Riêng lo nghèo khó.

Dịch cổ văn: 踽踽營生,獨憂困窘.。

Phiên âm: Chủ chủ doanh sinh, độc ưu khốn quẫn

6. Nguyên văn: Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Dịch cổ văn: 未習弓馬,不識行陣之場;

Phiên âm: Vị tập cung mã, bất thức hành trận chi trường

Nguyên văn: Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

Dịch cổ văn: 惟知耕犁,長居鄉社之內。

Phiên âm: Duy tri canh lê, trường cư hương xã chi nội.

7. Nguyên văn: Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Dịch cổ văn: 鋤耙耘耩,手原熟能;

Phiên âm: Sừ ba vân giảng, thủ nguyên thục năng;

Nguyên văn: Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

Dịch cổ văn: 槍盾戟旗,目未曾觀。

Phiên âm: Thương thuẫn kích kì, mục vị tằng quán.

8. Nguyên văn: Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn mong mưa;

Dịch cổ văn: 風鶴之聲,悠悠十月,盼官軍如旱望雲霓;

Phiên âm: Phong hạc chi thanh, du du thập nguyệt, phán quan quân như hạn vọng vân nghê;

Nguyên văn: Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọt như nhà nông ghét cỏ.

Dịch cổ văn: 腥膻之氣,滲染三年,惡賊黨若農憎蔓芥。

Phiên âm: Tinh thiên chi khí, sấm nhiễm tam niên, ố tặc đảng nhược nông tăng mạn giới.

9. Nguyên văn: Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Dịch cổ văn: 初見洋帆蔽皚皚,志在噍肝;

Phiên âm: Sơ kiến dương phàm tế khải khải, chí tại tiếu can;

Nguyên văn: Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

Dịch cổ văn: 再觀煙柱濃沉沉,願為啖咽。

Phiên âm: Tái quan yên trụ nùng trầm trầm, nguyện vi đạm yết.

10. Nguyên văn: Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Dịch cổ văn: 車書磊磊,豈容姦賊斬蛇逐鹿;

Phiên âm: Xa thư lỗi lỗi, khởi dung gian tặc trục lộc trảm xà;

Nguyên văn: Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

Dịch cổ văn: 日月煌煌,安許惡徒懸羊鬻犬?

Phiên âm: Nhật nguyệt hoàng hoàng, an hứa ác đồ huyền dương dục khuyển?

11. Nguyên văn: Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Dịch cổ văn: 非待召募,此番請纓斷鯨;

Phiên âm: Phi đãi chiêu mộ, thử phiên thỉnh anh đoạn kình;

Nguyên văn: Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Dịch cổ văn: 不思避逃,斯度奮力捕虎。

Phiên âm: Bất tư tị đào, tư độ phấn lực bộ hổ.

12. Nguyên văn: Khá thương thay:

Dịch cổ văn: 誠可哀哉!

Phiên âm: Thành khả ai tai

13. Nguyên văn: Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Dịch cổ văn: 本非營衛之卒,因義投軍;

Phiên âm: Bổn phi doanh vệ chi tốt, nhân nghĩa đầu quân;

Nguyên văn: Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

Dịch cổ văn: 原乃鄰里之民,以忠赴役。

Phiên âm: Nguyên nãi lân lí chi dân, dĩ trung phó dịch.

14. Nguyên văn: Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Dịch cổ văn: 十八般武藝,未經教練;

Phiên âm: Thập bát bàn võ nghệ, vị kinh giáo luyện;

Nguyên văn: Chín chục trận binh thư, đâu chờ bày bố.

Dịch cổ văn: 九十卷兵書,不待鋪排。

Phiên âm: Cửu thập quyển binh thư, bất đãi phô bài.

15. Nguyên văn: Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi đeo bao tấu bầu ngòi;

Dịch cổ văn: 外披布襖,未佩刃囊火袋;

Phiên âm: Ngoại phi bố áo, vị bội nhận nang hoả đại;

Nguyên văn: Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu nón gõ.

Dịch cổ văn: 手執竹槍,何需鐵笠柴刀?

Phiên âm: Thủ chấp trúc thương, hà nhu thiết lạp sài đao?

16. Nguyên văn: Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Dịch cổ văn: 點火繩以藁,亦焚邪教之舍;

Phiên âm: Điểm hoả thằng dĩ cảo, diệc phần tà giáo chi xá;

Nguyên văn: Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

Dịch cổ văn: 代鋒劍為刃,也斬侵官之頭。

Phiên âm: Đại phong kiếm vi nhận, dã trảm xâm quan chi đầu.

17. Nguyên văn: Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Dịch cổ văn: 毋勞司令擊鼓催陣,躍堵衝前,視賊如無;

Phiên âm: Vô lao tư lệnh kích cổ thôi trận, dược đổ xung tiền, thị tặc như vô;

Nguyên văn: Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

Dịch cổ văn: 不懼番兵發彈轟追,踹門闖入,瞅死若遺。

Phiên âm: Bất cụ phiên binh phát đạn hoanh truy, soại môn sấn nhập, thu tử nhược di.

18. Nguyên văn: Kẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Dịch cổ văn: 橫刺直斬,令馬邪馬儞魂驚;

Phiên âm: Hoành thích trực trảm, lệnh Mã Tà Mã Nễ hồn kinh;

Nguyên văn: Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ.

Dịch cổ văn: 前軍後隊,縱鐵舫銅船銃響。

Phiên âm: Tiền quân hậu đội, tung thiết phảng đồng thuyền súng hưởng.

19. Nguyên văn: Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Dịch cổ văn: 久蓄義心,今得施展;

Phiên âm: Cửu súc nghĩa tâm, kim đắc thi triển;

Nguyên văn: Đâu biết xác phàm vội bỏ.

Dịch cổ văn: 豈知凡體,忽須殉亡。

Phiên âm: Khởi tri phàm thể, hốt tu tuẫn vong.

20. Nguyên văn: Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Dịch cổ văn: 一入沙場報義字,豈知馬革裹屍還;

Phiên âm: Nhất nhập sa trường báo “nghĩa” tự, khởi tri mã cách khoả thi hoàn;

Nguyên văn: Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

Dịch cổ văn: 百年幽冥兮歸詞,未望虎刀懸墳籠。

Phiên âm: Bách niên u minh hề quy từ, vị vọng hổ đao huyền phần lũng.

21. Nguyên văn: Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Dịch cổ văn: 顧見芹𣨧江頭,萬里愁雲迷樹草;

Phiên âm: Cố kiến Cần Giuộc giang đầu, vạn lý sầu vân mê thụ thảo;

Nguyên văn: Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

Dịch cổ văn: 遙望長平市口,千行淚雨滿老兒。

Phiên âm: Dao vọng Trường Bình thị khẩu, thiên hành lệ vũ mãn lão nhi.

22. Nguyên văn: Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Dịch cổ văn: 實非盜案,姦案以譴之徒;而逼為兵,甘心殺賊。

Phiên âm: Thực phi đạo án, gian án dĩ khiển chi đồ; nhi bức vi binh, cam tâm sát tặc.

Nguyên văn: Vốn không giữ thành, giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Dịch cổ văn: 本匪守城,守壘而逃之黨;卻強效力,當死從軍。

Phiên âm: Bổn phỉ thủ thành, thủ luỹ nhi đào chi đảng; khước cưỡng hiệu lực, đáng tử tòng quân.

23. Nguyên văn: Nhưng nghĩ rằng:

Dịch cổ văn: 念彼:

Phiên âm: Niệm bỉ

24. Nguyên văn: Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Dịch cổ văn: 寸土寸蔬,皆君恩所賜;

Phiên âm: Thốn thổ thốn sơ, giai quân ân sở tứ;

Nguyên văn: Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

Dịch cổ văn: 一飯一衣,何干彼祖宗?

Phiên âm: Nhất phạn nhất y, hà can bỉ tổ tông?

25. Nguyên văn: Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Dịch cổ văn: 為誰使將士飽經風霜?

Phiên âm: Vị thuỳ sử tướng sĩ bão kinh phong sương?

Nguyên văn: Vì ai xui hào luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió?

Dịch cổ văn: 為誰令壕堞盡作塵埃?

Phiên âm: Vị thuỳ lệnh hào điệp tận tác trần ai?

26. Nguyên văn: Sống làm chi theo quân tà đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Dịch cổ văn: 曷活從逆黨,毀祠堂,撤像案,見之倍哀;

Phiên âm: Hạt hoạt tòng nghịch đảng, huỷ từ đường, triệt tượng án, kiến chi bội ai;

Nguyên văn: Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Dịch cổ văn: 何居為馬邪,分醪酒,啖土司,聞之益愧。

Phiên âm: Hà cư vi Mã Tà, phân lao tửu, đạm thổ ti, văn chi ích quý.

27. Nguyên văn: Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Dịch cổ văn: 寧死為義,歸祖先於九泉,亦光榮;

Phiên âm: Ninh tử vị nghĩa, quy tổ tiên ư cửu tuyền, diệc quang vinh;

Nguyên văn: Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Dịch cổ văn: 不願偷生,事夷狄於塵世,實可哀。

Phiên âm: Bất nguyện thâu sinh, sự di địch ư trần thế, thực khả ai.

28. Nguyên văn: Ôi thôi thôi!

Dịch cổ văn: 哀哉哀哉!

Phiên âm: Ai tai ai tai!

29. Nguyên văn: Chùa Tân Thạnh năm canh ưng nóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Dịch cổ văn: 新盛寺五更應寒暑,孤忠寄夢圓月;

Phiên âm: Tân Thạnh tự ngũ canh ưng hàn thử, cô trung kí mộng viên nguyệt;

Nguyên văn: Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.

Dịch cổ văn: 浪沙營一瞬報仇恨,薄命隨波奔流。

Phiên âm: Lang Sa doanh nhất thuấn báo cừu hận, bạc mệnh tuỳ ba bôn lưu.

30. Nguyên văn: Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Dịch cổ văn: 痛哉!慈母為少悲號,孤燈曳曳;

Phiên âm: Thống tai! Từ mẫu vị thiếu bi hạo, cô đăng duệ duệ;

Nguyên văn: Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Dịch cổ văn: 哀哉!弱妻尋夫嚎啕,暮影濛濛。

Phiên âm: Ai tai! Nhược thê tầm phu hào đào, mộ ảnh mông mông.

31. Nguyên văn: Ôi!

Dịch cổ văn: 嗚呼!

Phiên âm: Ô hô

32. Nguyên văn: Một trận khói tan; Nghìn năm tiết rỡ.

Dịch cổ văn: 一戰煙消,千秋節烈。

Phiên âm: Nhất chiến yên tiêu, thiên thu tiết liệt.

33. Nguyên văn: Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm cho bốn phía mây đen;

Dịch cổ văn: 賊軍猶屯麑濱之江,誰使四方陰翳?

Phiên âm: Tặc quân do đồn Nghê Tân chi giang, thuỳ sử tứ phương âm ế?

Nguyên văn: Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

Dịch cổ văn: 祖宗尚鎮同奈之地,誰護一坊赤民?

Phiên âm: Tổ tông thượng trấn Đồng Nại chi địa, thuỳ hộ nhất phường xích dân?

34. Nguyên văn: Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Dịch cổ văn: 死而報國,六省傳馨,忠名共頌;

Phiên âm: Tử nhi báo quốc, lục tỉnh truyền hinh, trung danh cộng tụng;

Nguyên văn: Thác mà ưng đền miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

Dịch cổ văn: 逝而配祀,萬代流馥,正氣長存。

Phiên âm: Thệ nhi phối tự, vạn đại lưu phức, chính khí trưởng tồn.

35. Nguyên văn: Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Dịch cổ văn: 生為衛國之士,死為助兵之魂,願輔征師,千秋報其讎;

Phiên âm: Sinh vi vệ quốc chi sĩ, tử vi trợ binh chi hồn, nguyện phụ chinh sư, thiên thu báo kì thù;

Nguyên văn: Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

Dịch cổ văn: 生為忠臣之流,死為英烈之魄,遵主上諭,一廕酬厥恩。

Phiên âm: Sinh vi trung thần chi lưu, tử vi anh liệt chi phách, tuân chủ thượng dụ, nhất ấm thù quyết ân.

36. Nguyên văn: Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Dịch cổ văn: 英雄涕淚難乾,哀在天民二字;

Phiên âm: Anh hùng thế luỵ nan can, ai tại thiên dân nhị tự;

Nguyên văn: Cây hương nghĩa sĩ thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Dịch cổ văn: 義士香煙猶熾,感於王土一言。

Phiên âm: Nghĩa sĩ hương yên do sí, cảm ư vương thổ nhất ngôn.

37. Nguyên văn: Hỡi ơi!

Dịch cổ văn: 嗚呼!

Phiên âm: Ô hô

38. Nguyên văn: Có linh xin hưởng.

Dịch cổ văn: 英靈有知,尚饗斯文。

Phiên âm: Anh linh hữu tri, thượng hưởng tư văn.

Nguyễn Thanh Lộc dịch

Leave a comment