ĐẠI LƯỢC VỀ QUÂN LỄ TRONG TẢ TRUYỆN

Tóm tắt

 Từ trong văn chương kinh điển Nho gia có thể thấy “lễ” 禮 hay “lễ nghi” 禮儀 là mấu chốt quan trọng trong việc điều tiết các chuẩn mực hành vi của con người. Ngay từ xưa kể từ khi con người thực hiện nghi thức giao tiếp và trao đổi buôn bán với nhau đã hình thành phong vị “lễ nghi”. Sau này khi Nho giáo phát triển và được nhiều triều đại phong kiến tận dụng vào việc trị quốc, “lễ“ lại càng được chú trọng và trở thành vấn đề nghiên cứu chung của nhiều học giả trong lịch sử. Thời Hán con người đã hợp xưng và phân lễ nghi thành năm loại và hợp xưng thành Ngũ lễ 五禮 bao gồm Cát lễ 吉禮 chỉ việc tế tự, Hung lễ 凶禮 chỉ việc tang tẫn, Quân lễ 軍禮 chỉ việc quân lính, Tân lễ 賓禮 chỉ việc tiếp khách và Gia lễ 嘉禮 chỉ việc hôn nhân và lễ đội mũ. Trong số đó Quân lễ 軍禮 được xem như là một trong số những nghi lễ quan trọng, đánh dấu bước đầu văn minh trong việc quản lý đất nước của chế độ phong kiến. Theo thiên Đại tông bá 大宗伯 trong chương Xuân quan 春官 của sách Chu lễ 周禮 có ghi chép: “Dĩ quân lễ đồng bang quốc” (以軍禮同邦國 – Lấy lễ quân lữ để thống nhất đất nước). Nói như vậy cũng đồng nghĩa Quân lễ là một trong số các thành phần chính yếu trong việc định hình nền tảng của một quốc gia, Quân lễ không chỉ trọng thị việc bảo vệ biên cương bờ cõi mà còn nhấn mạnh ở việc sắp xếp tổ chức và phân khu cai quản trong mỗi địa vực hành chính quốc gia, hơn hết Quân lễ còn cho thấy được tư duy quân sự của người xưa khi thực thi chính sách cai quản cũng như vấn đề trị an. Chính vì vậy, chúng tôi chọn Quân lễ làm đối tượng nghiên cứu trên không gian nghiên cứu là Tả truyện 左傳 để tìm hiểu một cách đại lược các đặc điểm chung của lĩnh vực nghi lễ trên. Đồng thời đưa ra được các giá trị lịch sử, không chỉ về Quân lễ nói riêng mà còn ở những khía cạnh lễ nghi khác nói chung trong Tả truyện ngõ hầu đưa ra các cách kiến giải mới đến các học giả, bổ sung vào kho dữ liệu lịch sử thuộc hành trình nghiên cứu kinh Xuân Thu.

 Từ khóa: Tả truyện, Quân lễ, kinh Xuân Thu…

  1. Khái lược về đặc điểm Tả truyện của học giả Tả Khưu Minh

Tả truyện 左傳, tên đầy đủ là Xuân Thu Tả thị truyện 春秋左氏傳, vốn có tên là Tả thị Xuân Thu 左氏春秋, đời Hán lại gọi là Xuân Thu Tả thị 春秋左氏, Xuân Thu nội truyện 春秋內傳, Tả thị 左氏… là một bộ Biên niên sử nổi tiếng ghi chép lai lịch sử thời kì Xuân Thu từ năm 722 TCN đến năm 468 với dung lượng thời gian là 255 năm, được phân thành 3 quyển, dài nhất trong Thập tam kinh 十三經 và được Tứ khố toàn thư 四庫全書 xếp vào loại Kinh bộ 經部.

Truyền thống cho rằng Tả truyện là do tác giả Tả Khưu Minh 左丘明 người nước Lỗ vào thời Xuân Thu sáng tác, cùng thời với Khổng Tử và mục đích của nó là chú giải Xuân Thu kinh, hợp với Công Dương truyện 公羊傳 và Cốc lương truyện 穀梁傳 hợp xưng là Xuân Thu tam truyện 春秋三傳. Tư Mã Thiên 司馬遷 là người đầu tiên cho rằng đây là tác phẩm của Tả thị, về sau có thêm Lưu Hướng 劉向, Bùi Nhân 裴駰, Lưu Hâm 劉歆, Hoàn Đàm 桓譚, Ban Cố 班固 cũng cho rằng đây là trứ tác của Tả Khưu Minh. Sau này đến thời Đường, trong thiên Lục gia 六家 trong Sử thông 史通 của tác giả Lưu Tri Cơ 劉知幾 cũng nói: “左傳家者,其先出於左丘明。” (Tả truyện gia giả, kì tiên xuất ư Tả Khưu Minh – Tả truyện, đầu tiên khởi sự từ Tả Khưu Minh.) Thậm chí đến thời Thanh trong sách Tứ khố toàn thư tổng mục 四庫全書總目 của Kỉ Quân 紀昀 cũng vẫn cho rằng đó là do Tả thị sáng tác. Tuy nhiên song hành cùng với lập luận trên cũng có học thuyết cho rằng Tả truyện không phải của Tả Khưu Minh. Người đầu tiên tin rằng Tả truyện không phải của Tả thị là Triệu Khuông Thủ 趙匡首 thời Đường. Về sau cũng có càng ngày càng nhiều người cho rằng Tả Khưu Minh không hề trứ tác Xuân Thu Tả truyện, trong số đó có các nghi hoặc sau: Trịnh Tiều 鄭樵 trong Lục kinh áo luận 六經奧論 cho rằng đây là của tác giả người nước Sở thời Chiến quốc. Hạng An Thế 項安世 lại cho đây là của tác giả người nước Ngụy. Hác Kính 郝敬 cho đây là của tác giả người nước Tấn. Thậm chí Trình Thụy Học 程端學 lại cho đây là ngụy thư. Lưu Phùng Lộc 劉逢祿 trong Tả thị Xuân Thu khảo chứng 左氏春秋考證 và Khang Hữu Vi 康有為 lại đồng nói rằng đây là trứ tác của Lưu Hâm và nhận định Yến Tử Xuân Thu 晏子春秋 và Tả thị Xuân Thu 左氏春秋 cùng thuộc loại sử thư. Đến nay việc tranh luận này vẫn chưa có hồi kết và tác giả của Tả truyện vẫn còn đang trong diện nghi vấn. Tuy là vậy song giá trị mà nó mang lại là không thể chối cãi.

Liên quan đến nội dung của Tả truyện 左傳, thông thường các học giả sẽ đứng trên hai phương diện nghiên cứu: Học phái thứ nhất cho rằng, Tả truyện lấy kinh Xuân Thu làm nền tảng, đồng thời sử dụng các tư liệu lịch sử của liệt quốc như  Chu chí 周志, Tấn thừa 晉乘, Trịnh thư 鄭書, Sở Đào Ngột 楚檮杌 sau đó thông qua việc ghi chép lại cụ thể các mốc lịch sử trong thời kì Xuân Thu để làm thành cương mục đề yếu cho kinh Xuân Thu. Hoàn Đàm 桓譚 trong Tân luận 新論 có viết: ““Tả thị” kinh chi dữ truyện, do y chi biểu lí, tương trì nhi thành, kinh nhi vô truyện, sử thánh nhân bế môn tư chi thập niên bất năng tri dã.” (《左氏》經之與傳,猶衣之表裡,相持而成,經而無傳,使聖人閉門思之十年不能知也。」 – Kinh và truyện của Tả thị, giống như áo ngoài và áo trong vậy, phải hỗ trợ nhau mà thành, kinh mà không có truyện, khiến cho thành nhân đóng cửa suy nghĩ 10 năm vẫn không thể biết được.) Ngay như cả Dương Bá Tuấn 楊伯峻 còn cho rằng Tả truyện đã làm được bốn thứ cho kinh Xuân Thu bao gồm: Bổ sung thư pháp “Xuân Thu”; Bổ sung sự thực “Xuân Thu”; Đính chánh sai sót “Xuân Thu” và Tăng trưởng kinh văn “Xuân Thu”. Học phải còn lại cho rằng, thực ra kinh Xuân Thu và Tả truyện là hai bộ phận tách biệt nhau, đồng thời cho đây là một bộ sử thư độc lập không có liên quan trực tiếp đến kinh Xuân Thu. Học phái này được biết tới nổi tiếng trong các kinh văn đời Tây Hán và được lưu truyền đến mãi về sau. Đại diện có Vương Tiếp 王接 người đời Tây Tấn cho rằng: “Tiếp thường vị “Tả thị” từ nghĩa thiệm phú, tự thị nhất gia thư, bất chủ vị kinh phát; “Công Dương” phụ kinh lập truyện, kinh sở bất thư, truyện bất vọng phát, ư văn vi kiệm, thông kinh vi trưởng.” (接常謂《左氏》辭義贍富,自是一家書,不主為經發;《公羊》附經立傳,經所不書,傳不妄發,於文為儉,通經為長。 – Tiếp tôi thường nói “Tả thị” từ nghĩa phong phú, ấy là một bộ sử của riêng một nhà, không phải vì kinh mà phát thành truyện; “Công Dương” vì để phụ thêm cho kinh mà lập nên truyện, những chỗ kinh không chép, truyện cũng không được nói càn nói thêm, cho nên văn từ kiệm ý, thông với kinh sách là chủ yếu.) Dù hiểu từ phương diện nào thì cũng cho thấy, bản thân của Tả truyện có một giá trị trường cửu, được người đời ca tụng “văn thái nhược vân nguyệt, cao thâm nhược sơn hải” (文采若雲月,高深若山海 – Văn phong đẹp đẽ như trăng trong mây, ý nghĩa cao thâm như biển cùng núi).

Tả truyện chủ yếu ghi chép lại thời suy vi của nhà Chu, lịch sử tranh bá của các nước chư hầu, tất cả các lĩnh vực về lễ nghi quy phạm, điển chương chế độ, xã hội phong tục, các mối quan hệ dân tộc, quan niệm đạo đức, thiên văn địa lý, lịch pháp thời lệnh, văn hiến cổ đại, truyền thuyết thần thoại, ca dao ngôn ngữ… tất cả đều được ghi chép và bình luận một cách tỉ mỉ. Có thể nói đây là một tập văn hiến quan trọng cho nhiều nhà nghiên cứu sử học trong việc nghiên cứu về lịch sử thời Tiên Tần và Xuân Thu. Hơn nữa đây còn là một bộ sử mang khuynh hướng tư tưởng Nho gia cho nên ngoài các vấn đề trên, Tả truyện còn nhấn mạnh đến các vấn đề trật tự giai cấp và luân lý tông pháp, coi trọng tinh thần chính danh, biện biệt giữa trưởng ấu tôn ti, đồng thời thể hiện rõ ràng tư tưởng “dân vi bổn”, tuy có sự đan cài giữa thực và hư nhưng cốt là để tôn cái thực cho nên dầu trong Tả truyện tồn hữu các vấn đề “dự trắc”, “chiêm bốc” nhưng lại phản ánh tính suy vi của xã hội đương thời, lấy như truyện Tấn Cảnh Công hai lần nằm mộng thấy mình phải chết do tính bất nhân và bất nghĩa của y. Tác giả tuy viết về “mộng”, nhưng ông sử dụng những giấc mơ như một phép ẩn dụ cho việc nêu bật tư tưởng “đức trị”. Cảnh Công giết con cháu của Triệu Quát, hồn ma Triệu thị về báo thù, ấy là cái nhân của sự “bất nhân”. Lại giết người vu sư chiếm bói vận mệnh cho mình khi cảm thấy rằng y nói sai, ấy là cái nhân của sự “bất nghĩa”. Từ đó dẫn đến kết cục “thất đức giả tốc vong” 失德者速亡 (Thất đức thì nhanh chết). Chính những ghi chép như vậy không chỉ khiến cho Tả truyện trở nên lý thú mà còn uyển chuyển truyền tải được các giá trị giáo dục cao thâm. Nói như Lương Khải Siêu 梁啟超 thì: “Kì kí ngôn văn uyên ý mỹ mậu sinh khí bột bột, hậu thử diệc đãi vị hữu kì bỉ” (其記言文淵懿美茂生氣勃勃,後此亦殆未有其比 – Ngôn ngữ của nó (Tả truyện) uyên áo đẹp đẽ, phong phú tràn đầy, về sau cũng e chưa chắc có một cuốn sách nào có thể sánh kịp.)

Tóm lại, Tả truyện không những cho thấy được giá trị lịch sử của nó mà còn cho thấy được các giá trị nội hàm từ nội dung, ngôn ngữ, giọng điệu, văn từ và các giá trị nghệ thuật sâu dày ở đó. Từ đó đủ để giúp người ta thấy được bề dày văn hóa Trung Hoa, được bồi tụ bởi một cuốn sử thư ra đời đã mấy ngàn năm nhưng đến nay vẫn còn lưu lại giá trị.

  • Đại cương về Quân lễ trong lịch sử phong kiến Trung Hoa

Vào thời kì phong kiến Trung Hoa, “lễ nghi” là thứ được đặc biệt coi trọng và được người xưa giữ gìn, lưu truyền không chỉ như một chứng tích văn hóa mà còn là một khuôn khổ chuẩn mực cho hậu học noi theo và ứng dụng. Trong số “ngũ lễ” được đề cập trong sách Chu lễ thì Quân lễ là một trong những hình thức lễ nghi chứa đựng độ dày văn hóa chính trị nhất của Trung Hoa. Theo Quách Mạt Nhược 郭沫若 trong cuốn Sưu miêu đích kiểm duyệt 蒐苗的檢閲 đã có nói: “Lấy ví dụ như đời Chu ở nước Trung Quốc ta, một năm bốn mùa đều có rèn luyện về quân sự, thao luyện mùa xuân thì gọi là “chấn lữ” 振旅, thao luyện mùa hạ thì gọi là “bạt xá” 拔舍, thao luyện mùa thu thì gọi là “trị binh” 治兵, thao luyện mùa đông thì gọi là “đại duyệt” 大閲. Tất cả đều được gọi là “quân lễ””. Như vậy từ đây có thể hiểu một cách khái lược, Quân lễ chính là một dạng thức chính trị diễn ra liên tục vào các thời gian trong năm. Hơn hết, đây còn là tấm gương để phản ánh sự thạnh suy của một quốc gia về chính trị xã hội. Chính vì vậy Quân lễ chiếm địa vị khá quan trọng trong việc quản lý của một quốc gia. Quân lễ được phân thành nhiều khía cạnh bao gồm các phương diện như trui rèn ý chí chiến đấu, niềm tin “tất thắng”, nghi lễ “khải hoàn” hoặc “hiến phu” (hiến giặc)… Và mỗi một thời kì lại có một cách gọi và phương thức xếp đặt khác nhau. Song khi xem xét từ nhiều lập trường lịch sử – văn hóa và xã hội thì Quân lễ tại Trung Hoa có những đặc trưng như sau:

  • Thứ nhất, trước khi xuất chinh sẽ có các dạng lễ nghi, cụ thể trong quân ngũ sẽ thực hiện nghi lễ “nghi xã” 宜社, vì mục đích của chiến tranh là để bảo vệ sự an nguy cho lãnh thổ quốc gia cho nên khi xuất chinh phải báo rõ cho thần thánh của cương vực nước ấy ngõ hầu nhận được sự gia hộ của thần linh. Hình thức tế tự của “nghi xã” tương đương như “tế địa” thời Thượng cổ, chủ yếu sẽ chôn vật phẩm, vật tế, ngọc lụa dưới đất, gọi chung là Ế 瘞. Song hành với lễ “nghi xã” cũng sẽ có lễ tế cáo với miếu tiền nhân gọi là “tạo nễ” 造禰 và tế cáo với quân thần, quân kì gọi là “mã tế” 禡祭, đặc biệt khi cử hành phương thức này phải dùng máu vật sống như dê, heo, bò… để rưới lên cờ quân, trống trận, đương thời gọi là “hấn kì cổ” 釁旗鼓 để cầu sự tương trợ của quân thần. Trong chiến trận, cờ là một trong những vật quan trọng nắm vai trò chỉ huy trong binh lính, sẽ điều khiển nhất cử nhất động của binh đoàn cho nên nghi thức này vào thời xưa rất được chú trọng. Ở một số nơi còn gọi lễ tế quân kì là “mã nha” 禡牙 vì bản chất chữ “nha” 牙 vốn là một loại cờ cỡ trung lớn được mang theo khi xuất chinh. Lễ nghi diễn ra trước khi xuất chinh ở mỗi một thời đại lại có những diễn biến khác nhau, đặc biệt đến thời Đường – Tống, phạm vi lễ nghi ngày càng phồn tạp và có xu hướng mở rộng thêm. Chẳng hạn, khi thực hiện lễ “mã nha”, người ta sẽ lấp một đống đất trên đường rồi cắm cành cây, người lái cỗ xe một tay cầm dây cương, một tay cầm chén rượu  đổ vào hai đầu trục xe, lại đổ trên vách ngăn phía trước xe, sau đó nốc hết phần rượu còn lại. Sau ba lần như vậy thì để cỗ xe lăn qua gò đất báo hiệu kết thúc buổi lễ.
  • Thứ hai, sau khi thực hiện các nghi lễ này xong, quân đội sẽ bước vào chiến trận. Đến khi đại quân nếu thắng trận trở về thì sẽ tiến hành lễ “khải hoàn” 凱旋, lúc ấy quân ngũ sẽ tấu khúc khải ca, binh sĩ sẽ cùng xướng khúc hát chiến thắng. Khi đến cổng thành, nếu hoàng đế thân chinh xuất binh thì chúng đại thần sẽ ra nghênh đón, còn nếu binh thần thân chinh thì thiên tử sẽ đích thân hoặc phái sứ giả đến nghênh tiếp nhằm biểu lộ sự ủy lạo. Sau khi vào thành, đoàn quân sẽ đến Thái miếu, Thái xã tế cáo với tổ tiên trời đất, đồng thời thực hiện lễ “hiến tiệp hiến phu”  獻捷獻俘. Hiến tiệp 獻捷 tức là báo cáo tin tức thắng lợi cho tổ tiên, ngõ hầu cảm tạ sự gia hộ của họ. Thời Chu gọi đây là lễ “hiến quắc ư vương” 獻馘于王 (Dâng tai trái cho vua). Trong đó “quắc” 馘 gọi là cái tai bên trái của quân địch bị cắt đi để đem về dâng công. Thời Bắc Ngụy còn có thêm chế độ “tuyên lộ bố” 宣露布. “Lộ bố”  露布 nghĩa chỉ văn thư chưa được niêm phong, văn kiện này thời Ngụy được dùng để bố cáo tin tức chiến thắng. Mỗi khi tiền tuyến báo tin chiến thăng, thì sẽ viết tin đó lên lụa màu, sau đó dựng một cây cột sơn, cột trên đỉnh của cột để báo rõ gần xa với mục đích “bố vu tứ hải, lộ vu nhĩ mục” (布于四海,露于耳目 – Báo cáo đến bốn bể, Cho mắt tai được nghe rõ nhìn rõ).  Hiến phu 獻俘 nghĩa là dâng lên chiến lợi phẩm bao gồm quân giặc và vật phẩm đoạt từ quân giặc để đợi nghe xử lý. Nghi lễ này ở mỗi một triều đại đa phần khá giống nhau, lấy đời Tống làm ví dụ, trước tiên sẽ trói giặc bằng sợi dây trắng, áp giải tới Thái miếu, Thái xã, sau khi thực hiện việc tế cáo với tông linh thì sẽ đưa giặc tới cửa Tuyên Đức. Nếu trong trường hợp đất nước bị thua cuộc thì cũng có nghi thức đầu hàng riêng. Trước hết sẽ dựng ở trước trại bục đầu hàng, trước bục dựng một cột cờ lớn gọi là “phụng chiếu nạp hàng” 奉詔納降 (Theo chiếu đầu hàng). Sau khi báo tin đầu hàng, trống pháo nổi lên, chủ tướng ngồi trước đài bệ, quân thua cuộc quỳ gối dưới đài, dập đầu vâng mệnh. Ngoài ra còn có lễ ân xá cho những người đầu hàng, đồng thời ban thưởng nhất định cho họ.
  • Thứ ba, khi chiến tranh kết thúc, thiên tử sẽ tiến hành luận công phạt tội, lễ này gọi là “ẩm chí” 飲至. Trong lễ này, binh tướng sẽ được vua ban tiệc và luận đến việc thăng quan tiến chức cho người có công và bàn đến việc giáng chức biếm trích cho người có tội. Ban đầu lễ này được tổ chức ở tông miếu, sau này vì tính trang nghiêm nên đã di dời sang hoàng cung chính điện.

Tuy nhiên, không phải lúc nào đất nước cũng có chiến tranh, khi xã hội đương trong thời bình, việc huấn luyện binh lính cũng được thực thi, chủ yếu dưới dạng hoạt động săn bắn để kích thích tinh thần quân sĩ, gọi chung là “điền liệp” 田獵 hoặc “công liệp” 畋獵 hay “thú liệp” 狩獵. Điển hình như thời Xuân Thu, nhà Chu đã phân “điền liệp” thành 4 dạng thuận theo bốn mùa trong năm bao gồm “Xuân sưu” 春蒐, “Hạ miêu” 夏苗, “Thu tiển” 秋獮 và “Đông thú” 冬狩. Lễ “Xuân sưu” 春蒐 vào tháng 2 giữa xuân chủ yếu huấn luyện binh sĩ phương thức điều khiển các tín hiệu thông qua trống, cờ, sáo… nhằm hiểu rõ được các thủ thuật chiến sự như “đứng ngồi”, “tiến lùi”, “tiến công”, “phòng thủ”… Lễ “Hạ miêu” 夏苗 vào tháng 5 giữa hạ chủ yếu tập trung vào việc huấn luyện khả năng ngủ ở nơi hoang dã và kỹ năng và khả năng chiến đấu ban đêm của binh lính; Lễ “Thu tiển” 秋獮 vào tháng 8 giữa thu chủ yếu tập trung vào việc bày binh bố trận và thao tác thực chiến. Lễ “Đông thú” 冬狩 thực hiện vào tháng 11 giữa đông sẽ tập trung đánh giá toàn diện về kết quả huấn luyện của quân đội trong năm qua.

Từ đây có thể thấy, quân lễ là một hoạt động bắt buộc có liên quan đến quân ngũ. Vua lấy lễ để trị quốc, để thiên hạ “đồng quy kì chính”. Cho nên khi tiến hành quân lễ, phải làm sao “dĩ minh hảo ác, thuận bỉ viễn phương” (以明好惡,順彼遠方 – Để làm rõ thiện ác, làm cho nơi xa xôi cũng phải quy thuận). Nói một cách đơn giản, nghi lễ và quân ngũ như hai bánh trong một cỗ xe, không thể thiếu một trong hai. Muốn quân ngũ chỉnh tề phải có nghi lễ tề chỉnh. Ấy cũng là một trong những nguyên tắc quan trọng trong giáo dục của người xưa.

  • Biểu hiện của Quân lễ trong Tả truyện của Tả Khưu Minh

Là một trong những bộ sách ghi lại thời kì chiến loạn Xuân Thu, Tả truyện không chỉ biên soạn một cách tường tận các giá trị lễ nghi đương thời mà còn là nguồn tư liệu phong phú cho các nghiên cứu văn hóa cổ đại nói riêng và Trung Hoa nói chung. Trong số đó, quân lễ là thể hình nghi thức được diễn tả rõ ràng và được tác giả chú trọng giải thích một cách tương đối tỉ mỉ. Như đã thuật ở trên thì quân lễ trong Tả truyện cũng được phân tách thành 3 giai thời bao gồm Chiến tiền 戰前 (Trước khi chiến đấu), Chiến trung 戰中 (Trong khi chiến đấu) và Chiến hậu 戰後 (Sau khi chiến đấu).

  • Chiến tiền 戰前

Theo những ghi chép trong Tả truyện, trước khi tiến hành chiến dịch, quan quân triều đình sẽ thực hiện hai loại nghi lễ chính bao gồm: Thứ nhất, “Cáo miếu” 告廟 tức là báo cáo với tổ tông đời trước mong nhận sự phò trợ của tiền nhân. Trong thiên Chiêu công bát niên 昭公八年 có chép: “Trị binh vu miếu, lễ dã.” (治兵于廟,禮也。 – Duyệt binh trước tông miếu, ấy là lễ vậy.). Thứ hai, “Tế xã” 祭社 tức là tế cáo thần đất mong khi chinh chiến sẽ được bảo hộ. Lễ nghi này thực tế có nguồn gốc từ thời thượng cổ, biểu hiện chính từ chữ “xã” 社. Vốn chữ Hán này là chữ Hội ý, tổ hợp từ hai bộ phận bao gồm bộ Kì ⺭ biểu thị sự cúng tế hoặc liên quan tới thần thánh, chữ “thổ” 土 chỉ đất đai. Nghĩa này thường xuất hiện trong cụm từ “xã tắc” 社稷 trong đó “xã” là thần đất, “tắc” là thần lúa. Trong Tả truyện, vào thời Mẫn Công năm thứ hai, Tấn Hầu sai Thái tử Thân Sinh đi chinh phạt họ Cao Lạc ở Đông Sơn, Lương Dư Tử Dưỡng có nói rằng: “Soái sư giả thụ mệnh ư miếu, thụ thần ư xã, hữu thường phục hĩ.” (帥師者受命于廟,受脤于社,有常服 [1] 矣。 – Người dẫn đầu binh sư nhận mệnh ở tông miếu, nhận thịt tế từ thần đất, phải có thường phục vậy.)

Ngoài hai nghi lễ chính được đề cập ở trên, còn một dạng nghi lễ có hơi hướng “thần học” là “bốc thệ” 卜筮 tức mang nghĩa bói toán, chiêm bói về sự thành bại của trận chiến. Trong đó “bốc” 卜 là dùng mai rùa để bói, còn dùng cỏ thi để bói thì gọi là “thệ” 筮. Căn cứ theo chương Hi công thập ngũ niên 僖公十五年có ghi chép về sự việc này trong trận chiến tại Hàn Nguyên 韓原 giữa Tần và Tấn như sau: Trước trận chiến Tần đã nhờ Bốc Đồ Phụ xem quẻ và “Bốc Đồ Phụ thệ chi, cát” (卜徒父筮之,吉 – Bốc Đồ Phụ coi cỏ thi cho Tần, ra được quẻ tốt). Cũng trong năm thứ 25 thời Hi Công, nước Tấn suy nghĩ đến việc có nên xuất binh chi viện cho vua Chu Tương Vương hay không vì đương thời Tương Vương bị quân Địch đánh bại, lưu lạc ở đất Tỉ 汜của nước Trịnh, mới sai Bốc Yển 卜偃 bói mai rùa thì ra quẻ “cát”, bói cỏ thi thì gặp quẻ Đại hữu 大有 về tới quẻ Khuê 睽 và cũng trở ngược lại Đại hữu 大有, cho quẻ “cát”. Quẻ gốc của việc này vốn là quẻ “Hỏa thiên đại hữu” 火天大有 và quẻ cho ra là “Hỏa trạch khuê” 火澤睽. Ở đây biến hào (chỉ sự biến đổi của hào âm và hào dương trong một quẻ) là hào chín ba, hào từ nói rằng: “Công dụng hanh ư thiên tử, tiểu nhân phất khắc” (公用亨于天子,小人弗剋。- Như bậc công (hầu) nhận tiệc từ thiên tử, hạng tiểu nhân chẳng khắc chế được). Hanh 亨 nghĩa là “hưởng” 享, tương đương với “thông” 通, ý nói công hầu nhận được yến tiệc từ thiên tử, tiểu nhân thì không được. Cho nên quẻ này đối với công hầu mà nói thì vô cùng có lợi, nhưng đối với người thường thì không hẳn có lợi, do đó Hồ Yển 狐偃 mới nói đây là quẻ cát lợi với Tấn Văn Công. Ngoài ra, nói “ ‘Đại hữu’ khứ ‘Khuê’ nhi phục, diệc kì sở dã.” (《大有》去《睽》而復,亦其所也。- “Đại hữu” đến “Khuê” rồi trở về, tức cũng có chỗ về vậy.) tức chỉ nội quái của Đại hữu là “càn” 乾, tức là “trời” (Thiên 天), biến thành nội quái của “khuê” 睽 là “đoài” 兑 tức là “cái đầm” (Trạch 澤), nhưng ngoại quái thì tương đồng, đều là quẻ “li” 離 mà “li” là “mặt trời” (Nhật 日), như vậy nảy sinh hiện tượng trời biến thành đầm trách để đón mặt trời, cũng chính nói thiên tử hạ cố để nghênh đón công hầu. Do đó Tấn Văn Công sau khi nghe xong phân tích của Bốc Yển, yên tâm xuất binh chi viện cho vua Chu. Quả nhiên sau khi nghênh tiếp Chu Tương Vương và nhận được khoản đãi từ ông, Tấn Văn Công đã mở rộng được cương thổ Nam Dương, được Chu vương trao cho bốn mảnh đất Dương Phàn 陽樊, Ôn 溫, Nguyên 原 và Toản Mao 攢茅.

Không chỉ tế cáo tông miếu và tế xã, ngoài việc “bốc thệ” thì trước khi xuất chinh, Tả truyện còn đề cập đến nghi thức “thụ binh” 授兵 và “trị binh” 治兵. Thụ binh tức là chỉ việc phân phát vũ khí chiến đấu, bởi thời Xuân Thu, binh khí được giấu ở kho nhà nước, chỉ khi có chiến sự mới được cấp phát, sau khi chiến cuộc kết thúc phải đem về hoàn trả. Như trong thiên Ẩn công thập nhị niên có chép: “Trịnh Bá tương phạt Hứa. Ngũ nguyệt Giáp Thìn, thụ binh ư đại cung” (鄭伯將伐許。五月甲辰,授兵于大宮。 – Trịnh Bá sắp chinh phạt Hứa. Giáp Thìn tháng 5, cấp phát binh khí ở cung lớn). Còn Trị binh tức là chỉ việc diễn tập quân đội trước khi xung trận. Như thiên Hi công nhị thập thất niên 僖公二十七年 có kể khi nước Sở toan bao vây nước Tống, có phái hai người Tử Văn 子文 và Tử Ngọc 子玉 lần lượt duyệt binh lại đất Khuể 睽 và đất Vị 蒍.

Như vậy có thể nói trước khi xuất trận, lễ nghi được chuẩn bị hết sức chu đáo. Trong Tả truyện nói riêng và thư tịch Trung Quốc cổ đại nói chung, đa phần đều nhấn mạnh vào vấn đề này, tuy mỗi triều đại có một cách diễn đạt danh xưng khác nhau nhưng tựu trung vẫn thể hiện được toàn bộ căn nguyên và diễn trình của các hình thức nghi lễ này.

  •  Chiến trung 戰中

Theo ghi chép trong Tả truyện, trong quá trình xuất binh sẽ cử hành lễ “Chiến đảo” 戰禱. Chiến đảo 戰禱 tức là chỉ việc dùng các đồ vật bằng ngọc để tế bái sông suối, hồ đầm, trời đất và tổ tiên. Mục đích của việc này là để cầu được sự bảo hộ của tổ tiên và thánh thần mong đạt được thắng lợi trong chiến tranh. Trong thiên Tương Công thập bát niên có ghi chép: “Tấn hầu phạt Tề, tương Tế hà, Hiến Tử dĩ châu ti hệ ngọc nhị giác nhi đảo.” (晉侯伐齊,將濟河,獻子以朱絲繫玉二瑴而禱 – Tấn Hầu đi chinh phạt nước Tề, đến sông Tế, Trung Hành Hiến Tử (Cẩu Yển) lấy sợi dây đỏ cột ngọc thành hai viên ngọc dính liền mà cầu đảo) hay trong truyện Tấn Sở Yên Lăng chi chiến 晉楚鄢陵之戰 (Trận chiến Yên Lăng của Tấn – Sở) có chép: “Sở Dư đăng Sào xa, dĩ vọng Tấn quân. Tử Trùng sử Thái tể Bá Châu Lê đãi ư vương hậu. Vương viết: “Sính nhi tả hữu, hà dã? ” Viết: “Triệu quân lại dã. ”“Giai tụ ư trung quân hĩ. ” Viết: “Hợp mưu dã. ” “Trương mán hỹ. ” Viết: “Kiền bốc ư tiên quân dã. ” “Triệt mán hỹ. ” Viết: “Tướng phát mệnh dã. ” “Thậm hiêu, thả trần thượng hỹ.” Viết: “Tướng tắc tỉnh di táo nhi vi hành dã.” “Giai thừa hỹ, tả hữu chấp binh nhi hạ hĩ.” Viết: “Thính thệ dã. Chiến hồ? ” Viết: “Vị khả tri dã.” “Thừa nhi tả hữu giai hạ hĩ.” Viết: “Chiến đảo dã.”” (楚予登巢車 [2],以望晉軍。子重使大宰伯州犁待於王后。王曰:“騁而左右,何也?”曰:“召軍吏也。”“皆聚於中軍 [3]矣。”曰:“合謀也。”“張幕矣。”曰:“虔卜於先君也。”“徹幕矣。”曰:“將發命也。”“甚囂,且塵上矣。”曰:“將塞井夷灶而為行也。”“皆乘矣,左右執兵而下矣。”曰:“聽誓也。“戰乎?”曰:“未可知也。”“乘而左右皆下矣。”曰:“戰禱也。” – Sở Cung Vương lên xe sào, để nhìn động tĩnh quân Tấn. Tử Trọng phái Thái tể Bá Châu Lê hỗ trợ phía sau vua Sở. Vua Sở hỏi rằng: “Quân Tấn cưỡi xe mà chạy xung quanh, ấy cớ làm sao?” Đáp: “Ấy là để triệu tập quan binh.” Vua Sở nói: “Đều tập hợp ở trung quân rồi.” Bá Châu Lê nói: “Đang mở họp bàn mưu rồi.” Vua Sở nói: “Lều đã căng rồi.” Bá Châu Lê nói: “Quân Tấn đang bốc quẻ cát hung ở chỗ tiên quân rồi.” Vua Sở nói: “Đã giở rèm rồi.” Bá Châu Lê nói: “Sắp phát lệnh rồi.” Vua Sở nói: “Cực kì huyên náo, lại bụi bay khắp trần rồi.” Bá Châu Lê nói: “Sắp lấp giếng san bếp và bày xong thế trận rồi.” Sở Vương nói: “Đều đã lên xe, quân tả hữu đã cầm vũ khí và xuống xe rồi”. Bá Châu Lê nói: “Nghe đâu sắp phát bố lời thề.” Vua Sở nói: “Sắp khai chiến rồi chăng?” Đáp: “Chưa thể biết được”. Vua Sở nói: “Lại lên chiến xa rồi mà quân tả hữu lại đều xuống cả.” Bá Châu Lê nói: “Đấy là làm lễ Chiến đảo vậy.) Từ đoạn văn trên, chúng ta có thể thấy được quy trình của nghi lễ này, đồng thời hiểu được văn hóa tinh thần của người Trung Hoa cổ đại khi thực hiện quân lễ nói riêng và các nghi thức nói chung.

Ngoài ra, từ đoạn văn trên, người đọc còn thấy được nghi lễ “thệ sư” 誓師 và “thị sư” 視師. Thệ sư 誓師 là một nghi lễ được thực hiện trước trận chiến giữa hai đội quân từ xa xưa với mục đích động viên tinh thần của binh lính. Còn Thị sư 視師 tức là quan sát tình hình quân của mình trước trận chiến để thám thính sự mạnh yếu của quân đối phương. Vào năm thứ 15 thời Hi Công, Tấn Hầu muốn đánh nhau với quân Tần, mới cho Hàn Giản thực hiện nghi thức “thị sư”. Hàn Giản lại nói rằng: “Sư thiểu ư ngã, đấu sĩ bội ngã.” (師少于我,鬥士倍我。” – Quân đội tuy ít hơn ta nhưng số người có khả năng chiến đấu lại gấp đôi ta.) Khi vua hỏi thì ông ta lại đáp rằng: “Xuất nhân kỳ tư, nhập dụng kỳ sủng. Cơ thực kỳ túc, tam thi nhi vô báo, thị dĩ lai dã. Kim hựu kích chi, ngã đãi tần phấn, bội do vị dã.” (出因其資,入用其寵。飢食其粟,三施而無報,是以來也。今又擊之,我怠秦奮,倍猶未也。- Vua thoát được đó là nhờ sự tư trợ của họ, trở về nước được cũng là nhờ ân huệ của họ. Khi đói khát thì ăn thóc của họ, nhận lấy 3 lần rồi nhưng chẳng báo đáp gì, cho nên họ mới tới đây. Nay lại muốn tấn công họ, bên ta thì lười nhác, bên Tần thì phấn chấn, sĩ khí tuy gấp bội nhưng vẫn chưa dừng lại đâu.) Như vậy từ việc “thị sư” cho thấy quân Tấn Huệ Công lúc ấy không đủ để đánh bại vua Tần, chưa kể vua Tấn là người bội nghĩa phản phúc, nên thất bại là điều hẳn nhiên. Như vậy trong quá trình xuất chinh, các lễ nghi như “chiến đảo”, “thệ sư” và “thị sư” không chỉ góp phần củng cố sĩ khí của quân lính mà hơn hết còn thể hiện được tinh thần “biết người biết ta”, suy xét tận cùng sự mạnh yếu để đạt được chiến công nhất định. Ấy cũng chính là tiền đề để những chiến cuộc sau này ước lượng và noi theo.

  • Chiến hậu 戰後

Như đã đề cập ở trên, sau chiến cuộc trở về, nếu thắng cuộc sẽ thực hiện một loạt các nghi lễ ăn mừng thắng lợi, nước chiến thắng sẽ dâng tù binh và chiến lợi phẩm đến tế cáo trước thần linh, để cảm tạ sự che chở của tổ tiên và thánh thần. Dạng nghi lễ này cũng được gọi là “hiến tiệp” 獻捷 như đã phân tích ở trên. Như trong thiên Chiêu công thập niên có ghi chép: “Thu thất nguyệt, Bình tử phạt Cử, thủ Cánh, hiến phu, thủy dụng nhân ư , thủy dụng nhân ư Bạc xã.” (秋七月,平子伐莒,取郠,獻俘,始用人于亳社。 – Tháng 7 mùa thu, Bình Tử chinh phạt nước Cử, lấy được vùng Cánh địa, dâng tù binh, ban đầu dùng người tế tự ở xã Bạc.) Sau khi tế tự trở về thì vua nước đó sẽ đãi tiệc binh sĩ, chúc mừng thắng lợi, ấy gọi là lễ “ẩm chí” 飲至 cũng như trên đã đề cập. Ví như trong trận chiến Thành Bộc của Tấn – Sở, sau khi nước Tấn đại thắng nước Sở trở về, vua nước Tấn đã “ẩm chí, đại thưởng, trưng hội thảo nhị” (飲至、大賞,徵會討貳 – Làm tiệc linh đình, thưởng lớn, lại tụ tập binh sĩ phạt người có tội). Không chỉ như vậy, nước bại trận cũng phải hành lễ “thụ hàng” với nước thắng trận, đền bù theo lễ. Như thiên Chiêu công tứ niên 昭公四年 có chép chuyện Lại Tử 賴子 vào thụ hàng nước Sở như sau: “Lại Tử diện phược hàm bích, sĩ đản, dư sấn tòng chi, tháo vu trung quân.” (賴子面縛銜璧,士袒,輿櫬從之 [4],造于中軍。 – Lại Tử tự chịu trói quặt hai tay ra sau lưng, trầy vai áo ra, theo xe chở linh cữu, đến chỗ trung quân.) Lại như năm Tuyên Công thứ 12 có chép, nước Sở bao vậy nước Trịnh, sau ba tháng ròng rã đã khắc chế được Trịnh quốc, vua nước Trịnh phải cởi trần áo, kéo dê đứng bên đường cung nghinh Sở Trang Vương, hành lễ của nước chiến bại. Khi quốc gia thua cuộc đứng hành lễ, vua thì thường trong hình thế “diện phược” 面縛, “thiết bích” 銜璧, “nhục đản khiên dương” 肉袒牽羊 còn kẻ bề tôi thì “dư thân” 輿櫬 để thực hiện “tang lễ” 葬禮 sau khi xử trảm.

Như vậy từ đây có thể thấy giữa nước thắng trận và nước bại trận vẫn tồn tại các dạng thức nghi lễ khác nhau, chủ yếu nước bại trận sẽ chịu quy hàng và thực hiện nghi thức theo điều khiển của nước thắng trận. Riêng nước thắng trận cũng sẽ thi hành các dạng nghi lễ khác nhau tùy vào tình hình chiến cuộc đương thời như thế nào. Song chung quy, có thể thấy việc thực hiện các nghi lễ theo sát từng giai đoạn của cuộc chiến đã cho thấy được tính vĩ mô văn hóa và cái nhìn trọng lễ của người xưa. Không những vậy thông qua đó,  người đọc còn hiểu được các giá trị tinh thần của Trung Hoa cổ đại, từ đó tiến sâu vào nghiên cứu lịch sử, đồng thời mở rộng khuynh hướng tìm hiểu để phục vụ các lý luận quân sự nói riêng và lý luận văn hóa nói chung.

 Tổng kết

Tóm lại, Tả truyện không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về các loại hình quân lễ mà còn giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về tổ chức quân đội và các hoạt động quân sự trong thời kỳ Xuân Thu, đóng góp khá lớn vào việc nghiên cứu văn hóa, quân sự và lịch sử nói chung của Trung Quốc cổ đại. Đồng thời, các mô tả trong Tả truyện còn phản ánh rõ nét về tình hình chính trị, xã hội đương thời. Từ các nghi lễ quân sự, có thể thấy được mức độ tôn trọng đối với quyền lực và uy tín của các vị lãnh đạo quân đội, cũng như các phong tục tập quán trong giao tế của quân ngũ. Không chỉ như vậy, việc nghiên cứu các dạng quân lễ trong Tả truyện, trong thế đối sánh với các tác phẩm lịch sử và văn học khác của Trung Hoa, giúp các nhà nghiên cứu định hình được vấn đề về tính ổn định chính trị và xã hội của thời kỳ đó bởi các nghi lễ quân sự thường phản ánh tính ổn định hóa và tính cố định quyền lực của triều đình, cũng như cách thức quản lý và tổ chức xã hội. Hơn hết, không chỉ mở rộng các khuynh hướng nghiên cứu sử học mà còn tạo tiền đề cho lý thuyết quân sự cổ đại ra đời. Như vậy có thể thấy, việc nghiên cứu các loại hình quân lễ trong Tả truyện không chỉ giúp khám phá những khía cạnh văn hóa và lịch sử quan trọng mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự ổn định và cấu trúc xã hội của thời kỳ Xuân Thu.

Chú thích

[1] Thường phục 常服: Chỉ chế phục mà quân đội mặc vào thời cổ đại.  Mao Hanh 毛亨 nói rằng: “Thường phục, nhung phục dã.” (常服,戎服也。- Thường phục, chỉ đồ đi đánh trận.)

[2] Sào xa 巢車: Tên một thứ xe dùng trong quân đội thời cổ, trên xe đựng cột cao, đầu cột là cái chòi nhỏ, lính leo lên đó để quan sát tình hình quân địch.

[3] Thời xưa, quân đội tổ chức thành tam quân 三軍 gồm: trung quân, tả quân và hữu quân (中軍, 左軍, 右軍). Hoặc thượng quân, trung quân và hạ quân (上軍, 中軍, 下軍) hoặc chỉ Dinh trại ở giữa của chủ súy.

[4] Khi tù binh bị bắt, sẽ mang quan tài theo cùng, biểu thị người đó đáng tội chết và sẽ bị hành quyết, quan tài có sẵn với mục đích sau khi xử trảm thì bỏ tù binh vào hòm.

Tài liệu tham khảo

1. 蔣孟潔(2020)。“貴族之戰:《左傳》軍禮審美研究”。I206.2 (文學評論和研究)。南京師范大學。

2. 許子濱 (1998)。“《左傳》禮製與“三禮”有合有不合說”。《人文中國學報》。

3. 杨茂义 (2015)。 “《左传》之礼研究”。中国:社会科学出版社。

Leave a comment