DỊCH THUẬT: TÚY ÔNG ĐÌNH KÝ 醉翁亭記 (Bài ký về đình Túy Ông)(Âu Dương Tu – 歐陽修)

Âu Dương Tu (chữ Hán: 歐陽修; ngày 1 tháng 8, 1007 – ngày 22 tháng 9, 1072), tự là Vĩnh Thúc, hiệu “Tuý Ông”, là nhà thơ nổi tiếng thời Tống ở Trung Quốc. Âu Dương Tu là một nhà văn tiếng tăm, một nhà thơ lớn, một nhà sử học, chính trị gia và đồng thời là một nhà làm từ khúc xuất sắc đời Tống. Ông cũng là người khai sáng ra thể loại “thi thoại” (bình luận và ghi chép lại các cuộc bàn luận của các thi nhân,…), cuốn “Lục Nhất thi thoại” là cuốn thi thoại đầu tiên của Trung Quốc. Âu Dương Tu còn tự xưng mình là “Lục nhất cư sĩ” (cư sĩ với sáu cái “một”: một vạn quyển sách, một ngàn thạch văn, một cây đàn, một bàn cờ, một bầu rượu và một thân già).

Bài viết này được sáng tác vào năm thứ 6 niên hiệu Khánh Lịch đời Tống Nhân Tông. Lúc ấy tác giả đương nhậm chức Tri Châu ở Trừ Châu. Túy Ông đình nằm ở phía Tây Nam huyện Trừ tỉnh An Huy.

Bài viết nhấn mạnh đến cái “sơn thủy chi lạc“, “du nhân chi lạc” và “thái thú chi lạc” ở Trừ Châu. Tác giả viết “thái thú chi lạc” tức là chỉ những chính tích (thành tích của quan lại) từ khía cạnh ca ngợi bản thân mình khi ở Trừ Châu, đây chính là nguyên nhân và nội dung của tư tưởng “thái thú chi lạc” của ông, cho thấy cái tư tưởng mà ông gọi là “dữ dân đồng lạc“, và tư tưởng “sơn thủy chi lạc” tức vừa đồng thời chủ yếu cho thấy, sau khi ông bị biếm chức, đã kí gửi tâm tư tình cảm vào sông núi, cùng thái độ về một cuộc sống tiêu khiển, giải sầu, tự tại. Chữ “Lạc” là trung tâm thấu suốt toàn văn mà ba chữ “lạc” (được tác giả đề cập đến) lại có quan hệ mật thiết với nhau.

Bài viết được viết dưới thể “kí”, trong thể văn này chứa đựng nhiều điều đặc sắc. Một là vận dụng một lượng lớn câu biền ngẫu, câu ngắn câu dài xen lẫn nhau mà không khô khan, đồng thời chen vào đó còn có những câu văn xuôi, hình thành nên phong cách câu văn biền ngẫu nhưng lại chẳng biền ngẫu, tựa như văn xuôi nhưng chẳng phải văn xuôi; hai là, toàn văn đều là những câu trần thuật, đồng thời dùng 21 chữ “dã” để tạo nên câu vĩ (để kết thúc câu), hình thành nên thứ âm điệu ngâm nga đặc sắc, mới mẻ, thêm vào đó là sự chú ý về tính điều phối giữa tiết tấu và âm chữ, những điều này khiến cho bài văn xuôi này đặc biệt thích hợp trong việc đọc diễn cảm, hay ngâm nga. Ngoài ra, câu chữ trong bài được cân nhắc kĩ lưỡng (tự châm cú chước), lời lẽ hàm súc mà ý vị sâu xa. Có người cho rằng câu đầu tiên “Hoàn Trừ giai sơn dã”, thời Nam Tống có người nhìn thấy được nguyên cảo, trước đây ông đã dùng hàng tá chữ nghĩa chỉ để nói về tầng ý của câu này, cuối cùng mới thay đổi mà chỉ viết thành năm chữ, có thể thấy rằng tính thâm sâu trong việc mài giũa trình độ ngôn ngữ của tác giả.

Người dựng đình là ai? Là nhà sư Trí Tiên ở trên núi vậy. Vậy ai là người đặt tên cho đình? Thái thú tự đặt vậy.

環滁皆山也。其西南諸峯,林壑尤美,望之蔚然而深秀者,琅琊也。山行六七裏,漸聞水聲潺潺而瀉出於兩峯之間者,釀泉也。峯迴路轉,有亭翼然臨於泉上者,醉翁亭也。作亭者誰?山之僧智仙也。名之者誰?太守自謂也。太守與客來飲於此,飲少輒醉,而年又最高,故自號曰醉翁也。醉翁之意不在酒,在乎山水之間也。山水之樂,得之心而寓之酒也。

Hoàn Trừ giai sơn dã. Kì Tây Nam chư phong, lâm hác vưu mĩ; vọng chi uý nhiên nhi thâm tú giả, Lang Da (1) dã. Sơn hành lục thất lí, tiệm văn thuỷ thanh sàn sàn, nhi tả xuất vu lưỡng phong chi gian giả, Nhưỡng tuyền dã. Phong hồi lộ chuyển, hữu đình dực nhiên lâm vu tuyền thượng giả, Tuý Ông đình dã. Tác đình giả thùy? Sơn chi tăng Trí Tiên dã. Danh chi giả thùy? Thái thú tự vị dã. Thái thú dữ khách lai ẩm vu thử, ẩm thiểu triếp tuý, nhi niên hựu tối cao, cố tự hiệu viết Tuý Ông dã. Tuý Ông chi ý bất tại tửu, tại hồ sơn thủy chi gian dã. Sơn thủy chi lạc, đắc chi tâm nhi ngụ chi tửu dã.

Chung quanh huyện Trừ đều là núi. Ở phía Tây Nam huyện các cảnh núi non, rừng rậm, hang hốc cực kỳ đẹp đẽ. Trông ra xa thấy cỏ cây tươi tốt mà rậm rạp thanh tú, đó là Lang Da vậy. Men theo đường núi chừng 6, 7 dặm, dần dần nghe có tiếng nước róc rách rồi chảy rót xuống ra giữa hai ngọn núi, đó là suối Nhưỡng. Thế núi uốn khúc, đường núi quanh co, có ngôi đình có mái xoè ra như cánh chim (giương cánh sắp bay) nằm gần sát trên bờ suối, đó là đình Túy Ông. Người dựng đình là ai? Là nhà sư Trí Tiên ở trên núi vậy. Vậy ai là người đặt tên cho đình? Thái thú tự đặt vậy. Quan thái thú cùng với bọn khách khứa đến uống rượu ở nơi đây, uống thì ít mà đã say sưa, hơn nữa tuổi tác lại cao nhất (trong đó) cho nên tự đặt hiệu (của mình) là Túy Ông vậy. Tâm ý trong cái tên Túy Ông, không nằm ở rượu mà nằm ở trong cảnh núi sông này (việc thưởng thức non nước cảnh vậy). Cái thú vui sơn thủy, cảm được (nó) ở trong tâm (lĩnh hội (nó) ở trong lòng) mà gởi gắm (nó) ở trong rượu vậy.

若夫日出而林霏開,雲歸而巖穴暝,晦明變化者,山間之朝暮也。野芳發而幽香,佳木秀而繁陰,風霜高潔,水落而石出者,山間之四時也。朝而往,暮而歸,四時之景不同,而樂亦無窮也。

Nhược phù nhật xuất nhi lâm phi khai, vân qui nhi nham huyệt minh; hối minh biến hoá giả, sơn gian chỉ triêu mộ dã. Dã phương phát nhi u hương, giai mộc tú nhi phồn âm, phong sương cao khiết, thuỷ lạc nhi thạch xuất giả, sơn gian chi tứ thời dã. Triêu nhi vãng, mô nhi qui, tứ thời chi cảnh bất đồng, nhi lạc diệc vô cùng dã.

Như khi mặt trời nhô lên làm cho màn sương trong rừng thẳm tiêu tán, mây khói bay về tụ hội làm cho hang hốc trở nên tối tăm. Sáng tối chuyển hoá cho nhau cũng chính là cảnh sớm chiều (luân phiên) của vùng rừng núi vậy. Cỏ dại ngoài đồng mọc lên mà toả hương u nhã, cây tốt xum xuê mà bóng râm rậm rạp, sương gió trong lành (bầu trời lồng lộng, sắc sương trong ngần), nước rút xuống thấp làm cho đá nhô ra, đó là cảnh bốn mùa ở trong chốn núi non vậy. Sáng thì vào núi, đến tối lại quay về, cảnh vật bốn mùa chẳng giống nhau và niềm vui cũng vô cùng vậy.

至於負者歌於途,行者休於樹,前者呼,後者應,傴僂提攜,往來而不絕者,滁人遊也。臨溪而漁,溪深而魚肥。釀泉爲酒,泉香而酒洌;山餚野蔌,雜然而前陳者,太守宴也。宴酣之樂,非絲非竹,射者中,弈者勝,觥籌交錯,起坐而喧譁者,衆賓歡也。蒼顏白髮,頹然乎其間者,太守醉也。

Chí vu phụ giả ca ư đồ, hành giả hưu ư thụ, tiền giả hô, hậu giả ứng, ủ lũ đề huề, vãng lai nhi bất tuyệt giả, Trừ nhân du dã. Lâm khê nhi ngư, khê thâm nhi ngư phì; Nhưỡng tuyền vi tửu, tuyền hương chi tửu liệt (2); sơn hào dã tốc, tạp nhiên nhi tiền trần giả, thái thú yến dã. Yến hàm chi lạc, phi ti phi trúc, xạ giả trúng (3), dịch giả thắng, quang trù giao thác, khởi toạ nhi huyên hoa giả, chúng tân hoan dã. Thương nhan bạch phát, đồi nhiên hồ kì gian giả, thái thú tuý dã.

Chung quanh huyện Trừ đều là núi. Ở phía Tây Nam huyện các cảnh núi non, rừng rậm, hang hốc cực kỳ đẹp đẽ.

Còn như cảnh người mang kẻ vác hát ca ở trên đường, khách bộ hành nghỉ ngơi dưới gốc cây, người trước kêu (hô), người sau đáp lại (ứng), lom khom dắt díu nhau (già có trẻ có), qua lại không ngớt, đó là những người khách ở đất Trừ tới đây du ngoạn vậy. Đến suối mà câu cá, suối sâu thì cá béo, cất nước suối Nhưỡng làm rượu, hương suối thơm làm rượu thanh ngọt, thức ăn ở trong núi, rau cỏ ở ngoài đồng, bày ra đủ thứ ở trước mặt người, đó là bữa tiệc của Thái Thú vậy. Cái vui của yến tiệc say sưa, không nằm ở đàn chẳng nằm ở sáo (mà nằm ở cái trò ném thẻ vào bình rượu), người chơi đầu hồ thì ném trúng đích, người chơi đánh cờ thì giành phần thắng, chén thẻ ngổn ngang, người đứng người ngồi đến nỗi ồn ào, náo nhiệt, đó là niềm vui của bọn khách khứa vậy. Có người tóc bạc da mồi, ngả nghiêng (lảo đảo) ở ngay giữa tiệc, đó là Thái thú đã say vậy.

已而夕陽在山,人影散亂,太守歸而賓客從也。樹林陰翳,鳴聲上下,遊人去而禽鳥樂也。然而禽鳥知山林之樂,而不知人之樂;人知從太守遊而樂,而不知太守之樂其樂也。醉能同其樂,醒能述以文者,太守也。太守謂誰?廬陵歐陽修也。

Dĩ nhi tịch dương tại sơn, nhân ảnh tán loạn, thái thủ qui nhi tân khách tòng dã. Thụ lâm âm ế, minh thanh thượng hạ, du nhân khứ nhi cầm điểu lạc dã. Nhiên nhi cầm điểu tri sơn lâm chi lạc, nhi bất tri nhân chi lạc; nhân tri tòng thái thú du nhi lạc, nhi bất tri thái thú chi lạc kì lạc dã. Tuý năng đồng kì lạc, tỉnh năng thuật dĩ văn giả, thái thú dã. Thái thú vị thùy? Lư Lăng Âu Dương Tu dã.

Rồi khi “mặt trời gác núi chiêng đà thu không”, bóng người nghiêng ngả, đó là cảnh Thái thú trở về mà đoàn khách theo sau vậy. Bóng cây phủ mờ, chim kêu trầm bổng, đó là  niềm vui của chim chóc sau khi khách khứa đi hết vậy (khách khứa bỏ đi hết rồi lũ chim mới thấy vui). Thế nhưng chim chóc chỉ biết được cái vui nơi núi đồi thôi chứ nào biết được niềm vui của con người, khách khứa chỉ biết theo sau Thái thú du ngoạn là vui chứ nào biết Thái thú đương vui với niềm vui của họ đâu (Theo tôi nên dịch thành: Không biết vui với niềm vui của Thái thú đâu). Khi say thì có thể cùng vui với Thái thú, nhưng người khi tỉnh rồi có thể dùng văn chương để mà thuật lại, thì chỉ có Thái thú thôi. Thái thú là ai? Chính là Âu Dương Tu người Lư Lăng vậy.

(1) Lang Da: Núi Lang Da, nằm ở phía Tây Nam huyện Trừ.

(2) Liệt 洌:Thanh khiết. Câu này có người cho rằng bản gốc của Âu Dương Tu viết là “tuyền liệt nhi tửu hương” nhưng Tô Thức viết lại trong bài bi văn “Túy Ông đình ký” sửa thành “tuyền hương nhi tửu liệt”.

(3) Xạ: Một trò chơi gọi là đầu hồ 投壶 thời xưa. Dùng một tấm thẻ có hình dạng mũi tên ném vào cái bình cổ cao, căn cứ vào số lần trúng mà phân ra thắng thua.

Nguyễn Thanh Lộc dịch

Nguồn: Ngô Sở Tài, Ngô Điều Hậu biên tập, Nhóm Lý Mộng Sinh, Sử Lương Chiếu chú thích (2001), Cổ văn quan chỉ thích chú (Quyển thượng), Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã xuất bản, Thượng Hải, Tr. 822 – 827.

One thought on “DỊCH THUẬT: TÚY ÔNG ĐÌNH KÝ 醉翁亭記 (Bài ký về đình Túy Ông)(Âu Dương Tu – 歐陽修)

Leave a comment