DỊCH THUẬT: 張中丞傳後敘 (Trương Trung Thừa truyện hậu tự – Bài tự viết phía sau truyện Trương Trung Thừa) – Hàn Dũ 韓愈

Hàn Dũ (chữ Hán: 韓愈, 768 – 25/12/824) tự Thoái Chi 退之, sinh tại đất Hà Dương, Hà Nam, Trung Quốc (nay thuộc Mạnh Châu, tỉnh Hà Nam); tổ phụ người đất Xương Lê (nay thuộc Hà Bắc, có thuyết nói thuộc huyện Nghĩa, Liêu Ninh) nên ông thường tự xưng là Hàn Xương Lê (韩昌黎), làm quan về đời vua Đường Hiến Tông (806 – 820) tới Binh bộ thị lang, Lại bộ thị lang. Hàn Dũ là người tôn sùng Nho giáo, đả kích Phật giáo và Đạo giáo, cho rằng hai giáo pháp đó là phi chính thống, xoá bỏ nghĩa vua tôi, cha con, chồng vợ là những căn cơ quan trọng xây dựng một xã hội chính danh. Về mặt văn học, tuy Hàn Dũ để lại không nhiều thơ ca từ phú nhưng ông lại là một văn gia kiệt xuất của thời nhà Ðường. Là người đứng đầu trong Ðường Tống bát đại văn gia, chủ trương từ bỏ lối văn biền ngẫu văn vẻ mà sáo rỗng. Văn chương của ông gây ảnh hưởng sâu rộng đối với văn đàn thời đó. Cùng với Liễu Tông Nguyên dẫn đầu phong trào cổ văn và phát triển tản văn lên một tầm cao mới.

Hàn Dũ là người tôn sùng Nho giáo, đả kích Phật giáo…

Trương Trung Thừa truyện hậu tự” 《張中丞傳後敘》 là một thiên tản văn nổi tiếng do Hàn Dũ sáng tác vào thời nhà Đường ở Trung Hoa, biểu dương những công trạng lớn lao của hai tướng Trương Tuần và Hứa Viễn vùng Tuy Dương (Nay thuộc tỉnh Hà Nam) trong thời kỳ loạn An Sử. Thiên tản văn nầy được viết sau khi Hàn Dũ đọc được “Trương Tuần truyện” do Lý Hàn sáng tác, nhằm bổ sung thêm nguồn tài liệu đáng giá cho người sau dễ dàng tra cứu tìm hiểu, cùng với đó là những bàn luận sâu sắc về đặc trưng tính cách của những nhân vật trong truyện. Tình cảm lai láng, cảm xúc dạt dào, khen chê phân minh, biểu lộ tinh thần khách quan đúng đắn, đan xen giữa tự sự và nghị luận, không phân chủ – khách mà vẫn rõ ràng. Trong bài tản văn còn đề cập đến những điển tích nổi tiếng như Nam Tễ Vân tuyệt thực chặt đứt ngón tay (Cự thực đoạn chỉ 拒食斷指), rút tên bắn vào tháp (Trừu thỉ xạ tháp 抽矢射塔), Trương Tuần đọc thuộc lòng Hán thư hay chuyện y đứng dậy đi tiểu… cũng được bổ sung thêm, làm cho câu chuyện nồng nã tinh thần anh hùng, khiến cho tình tiết truyện và hình tượng nhân vật trở nên sống động, hấp dẫn, lôi cuốn.

Trương Trung Thừa truyện hậu tự” 《張中丞傳後敘》 là một thiên tản văn nổi tiếng do Hàn Dũ sáng tác vào thời nhà Đường Trung Hoa, biểu dương những công trạng lớn lao của hai tướng Trương Tuần và Hứa Viễn vùng Tuy Dương (Nay thuộc tỉnh Hà Nam) trong thời kỳ loạn An Sử.

Nguyên văn:

1. 元和二年四月十三日夜,愈與吳郡張籍(1)閱家中舊書,得李翰(2)所為《張巡傳》(3) 。翰以文章自名(4),為此傳頗詳密。然尚恨有闕者:不為許遠(5)立傳,又不載雷萬春(6)事首尾。

Phiên âm: Nguyên Hoà nhị niên tứ nguyệt thập tam nhật dạ, Dũ dữ Ngô quận Trương Tịch duyệt gia trung cựu thư, đắc Lý Hàn sở vi “Trương Tuần truyện”. Hàn dĩ văn chương tự danh, vi thử truyện phả tường mật. Nhiên thượng hận hữu khuyết giả: Bất vị Hứa Viễn lập truyện, hựu bất tái Lôi Vạn Xuân sự thủ vĩ.

Dịch nghĩa: Đêm ngày 13 tháng 4 năm thứ hai niên hiệu Nguyên Hoà, Hàn Dũ ta cùng với Trương Tịch ở quận Ngô xem xét lại những cuốn sách cũ ở trong thơ phòng, phát hiện có “Trương Tuần truyện” do Lý Hàn sáng tác (làm ra). Hàn dùng văn từ kín đáo (song ý tứ trúc trắc) mà tự diễn tả, khiến cho truyện này vô cùng tỉ mỉ uẩn áo. Thế nhưng đáng tiếc là vẫn còn có những điểm khiếm khuyết: Không viết truyện cho Hứa Viễn, lại không ghi chép lại đầu đuôi câu chuyện của Lôi Vạn Xuân.

2. 遠雖材若不及巡者,開門納巡(7),位本在巡上。授之柄而處其下,無所疑忌,竟與巡俱守死,成功名,城陷而虜(8),與巡死先後異耳。兩家子弟材智下 (9),不能通知二父志,以為巡死而遠就虜,疑畏死而辭服於賊。遠誠畏死,何苦守尺寸之地,食其所愛之肉(10),以與賊抗而不降乎?當其圍守時,外無蚍蜉蟻子之援,所欲忠者,國與主耳,而賊語以國亡主滅(11)。遠見救援不至,而賊來益眾,必以其言為信;外無待(12)而猶死守,人相食且盡,雖愚人亦能數日而知死所矣。遠之不畏死亦明矣!烏有城壞其徒俱死,獨蒙愧恥求活?雖至愚者不忍為,嗚呼!而謂遠之賢而為之邪?

Phiên âm: Viễn tuy tài nhược bất cập Tuần giả, khai môn nạp Tuần, vị bổn tại Tuần thượng. Thụ chi bính nhi xử kỳ hạ, vô sở nghi kị, cánh dữ Tuần câu thủ tử, thành công danh, thành hãm nhi lỗ, dữ Tuần tử tiên hậu dị nhĩ. Lưỡng gia tử đệ tài trí hạ, bất năng thông tri nhị phụ chí, dĩ vi Tuần tử nhi Viễn tựu lỗ, nghi úy tử nhi từ phục ư tặc. Viễn thành úy tử, hà nhược thủ xích thốn chi địa, thực kỳ sở ái chi nhục, dĩ dữ tặc kháng nhi bất hàng hồ? Đương kì vi thủ thời, ngoại vô tì phù nghĩ tử chi viện, sở dục trung giả, quốc dữ chủ nhĩ, nhi tặc ngứ dĩ quốc vong chủ diệt. Viễn kiến Cứu Viên bất chí, nhi tặc lai ích chúng, tất dĩ kỳ ngôn vi tín; ngoại vô đãi nhi do tử thủ, nhân tương thực thả tận, tuy ngu nhân diệc năng sổ nhật nhi tri tử sở hỹ. Viễn chi bất úy tử diệc minh hỹ! Ô hữu thành hoại kỳ đồ câu tử, độc mông quý sỉ cầu hoạt? Tuy chí ngu giả bất nhẫn vi, ô hô! Nhi vị Viễn chi hiền nhi vi chi da?

Hứa Viễn

Dịch nghĩa: Viễn, tuy tài năng dường như chẳng bằng Tuần, nhưng khi mở cửa thành nghênh đón Trương Tuần, chức vị của y vốn dĩ hơn cả Tuần. Ông ta trao cho Tuần quyền bính rồi (cam lòng) ở dưới trướng của y, không có chỗ nào nghi ghét đố kị, cuối cùng cùng với Trương Tuần đồng cố thủ trong thành cho đến cùng, công tích (với quốc gia) được thành tựu (giữ vững đất nước đến phút cuối), thành bị vây khốn và (cả hai) bị bắt sống, thế nhưng vào lúc mà Trương Tuần bị giết chết thì trước sau có chỗ bất đồng. Con em trong nhà hai người trí tài thấp kém, không thể thông tỏ chí hướng của những bậc cha chú, bởi Tuần thì phải chết mà chỉ Viễn bị bắt sống, họ ngờ rằng Viễn kia sợ chết nên muốn cởi giáp đầu hàng giặc. Nếu như Viễn thực sợ chết, cớ sao phải chịu khổ chỉ để trấn thủ miếng đất có vài thước tấc kia, ăn lót dạ luôn cả thịt của những người mà họ yêu quý, đến mức cùng nhau chống giặc và không buông tay chịu trói như thế? Đương lúc quân giặc vây thành, bên ngoài lại chẳng có lấy được một tên quân viện trợ mỏng manh yếu ớt (như giống kiến càng nhỏ bé), người dẫu có muốn tận trung tận hiếu, cũng chỉ có tổ quốc và bậc đế vương mà thôi, còn về phía quân giặc lại doạ rằng chúng muốn mang cả đất nước lẫn đấng thượng hoàng này ra mà tiêu diệt sạch sẽ. Viễn thấy cứu binh chẳng tới, mà quân giặc lại càng ngày càng đông, (trong tình thế đó) buộc y phải tin theo lời của bọn chúng, bên ngoài chẳng còn chút trông mong nào mà hãy còn giữ thành tới chết, người với người ăn thịt (giày xéo) lên nhau lại chết gần hết, dẫu có là kẻ ngu cũng đủ sức định liệu được cái ngày và biết lúc nào mình chết (mà trốn đi). Việc Viễn không sợ chết rốt cuộc đã được sáng tỏ rồi vậy! Trong khi thành bị phá hoại, bộ hạ của Viễn (chỉ Trương Tuần) cùng mình cố thủ, cớ sao chỉ có y là dối lừa (Trương Tuần) chịu nhục mạ hổ thẹn để cầu xin được sống? Dẫu là kẻ đại ngu cũng không chịu làm như thế, than ôi! Lẽ nào lại có thể cho rằng một kẻ tài đức như Viễn mà chịu đi làm việc này?

3. 說者(13)又謂遠與巡分城而守,城之陷,自遠所分始。以此詬遠,此又與兒童之見無異。人之將死,其藏腑必有先受其病者;引繩而絕之,其絕必有處。觀者見其然,從而尤之,其亦不達於理矣!小人之好議論,不樂成人之美,如是哉!如巡、遠之所成就,如此卓卓,猶不得免,其他則又何說!

Phiên âm: Thuyết giả hựu vị Viễn dữ Tuần phân thành nhi thủ, thành chi hãm, tự Viễn sở phân thủy. Dĩ thử cấu Viễn, thử hựu dữ nhi đồng chi kiến vô dị. Nhân chi tương tử, kỳ tạng phủ tất hữu tiên thụ kỳ bệnh giả, dẫn thằng nhi tuyệt chi, kỳ tuyệt tất hữu xứ. Quan giả kiến kỳ nhiên, tòng nhi vưu chi, kỳ diệc bất đạt ư lí hỹ! Tiểu nhân chi hiếu nghị luận, bất lạc thành nhân chi mỹ, như thị tai! Như Tuần, Viễn chi sở thành tựu, như thử trác trác, do bất đắc miễn, kỳ tha tắc hựu hà thuyết!

Dịch nghĩa: Có thuyết lại cho rằng Viễn cùng với Tuần chia thành ra mà trấn giữ, thành bị vây hãm là do quân giặc bắt đầu tấn công từ phía thành (vùng Tây Nam) nơi mà Viễn trấn thủ. Những kẻ đem cái lý do này mà nhục mạ, phỉ báng Hứa Viễn, so với tri kiến của lũ ấu học, nhi đồng thực chẳng khác nhau. Người lúc sắp chết, trong phủ tạng của họ ắt phải có nơi đầu tiên gánh chịu mầm bệnh; kéo căng dây thừng mà cắt thì chỗ bị cắt ắt phải có điểm đứt (đầu tiên). Một kẻ quan sát khi thấy rõ một sự tình nào đó thì nương theo mà bày tỏ nỗi oán giận, như thế ngay cả họ cũng không thể đạt tới cái đạo lý (tối thượng) vậy. Bọn tiểu nhân ham thích bàn luận, chẳng bao giờ vui vẻ làm tròn những điều tốt trong nhân gian, đến mức thế này rồi ư! Ví như những thành tựu của Tuần, Viễn, xuất chúng như thế, mà hãy còn không thoát được (những phỉ báng của người đời), những kẻ khác làm sao có thể nói được đây?

4. 當二公之初守也,寧能知人之卒不救,棄城而逆遁?苟此不能守,雖避之他處何益?及其無救而且窮也,將其創殘餓羸之餘,雖欲去,必不達。二公之賢,其講之精矣(14)!守一城,捍天下,以千百就盡之卒,戰百萬日滋之師,蔽遮江淮,沮遏其勢,天下之不亡,其誰之功也!當是時,棄城而圖存者,不可一二數;擅強兵坐而觀者,相環也。不追議此,而責二公以死守,亦見其自比於逆亂,設淫辭而助之攻也。

Phiên âm: Đương nhị công chi sơ thủ dã, ninh năng tri nhân chi tốt bất cứu, khí thành nhi nghịch độn? Cẩu thử bất năng thủ, tuy tị chi tha xứ hà ích? Cập kỳ vô cứu nhi thả cùng dã, tương kỳ sang tàn ngạ luy chi dư, tuy dục khứ, tất bất đạt. Nhị công chi hiền, kỳ giảng chi tinh hỹ! Thủ nhất thành, hãn thiên hạ, dĩ thiên bách tựu tận chi tốt, chiến bách vạn nhật tư chi sư, tế già Giang Hoài, trở át kỳ thế, thiên hạ chi bất vong, kì thùy chi công dã. Đương thị thời, khí thành nhi đồ tồn giả, bất khả nhất nhị sổ, thiện cường binh toạ nhi quan giả, tương hoàn dã. Bất truy nghị thử, nhi trách nhị công dĩ tử thủ, diệc kiến kỳ tự bỉ ư nghịch loạn, thiết dâm từ nhi trợ chi công dã.

Dịch nghĩa: Đương khi hai người vừa mới trấn thủ, sao có thể biết được người chết mà không lại cứu giúp, bỏ thành để mà chạy trốn chăng? Nếu như cả hai người ấy chẳng thể giữ nổi, dẫu có bỏ đi nơi khác, phỏng có ích gì? Đến lúc (không chỉ) chẳng thấy cứu binh (viện trợ) mà còn cùng đường tuyệt lộ, (vẫn phải) chỉ huy bọn phế binh thương tật, tàn tạ, đói khát, ốm yếu, dẫu có muốn bỏ đi, cũng không thể toại nguyện. Tài đức của hai ông, người trước đã suy nghĩ thấu đáo rồi vậy! Bảo vệ thành mình, gìn giữ thiên hạ, chỉ dựa vào vài trăm, nghìn quân đã chết gần hết, mà đánh cả một đội quân cả trăm vạn binh sĩ và càng lúc càng tăng thêm, bao trùm cả một vùng Giang Hoài, chẹn đứng thế giặc, thiên hạ chẳng mất, vậy đó là công lao của ai! Đương khi ấy, những kẻ bỏ thành mà mưu đường sống, không thể đếm xuể, đến những kẻ thạo dùng binh tốt đến ngồi yên mà quan sát, cũng nối nhau mà bỏ chạy vậy. Nếu chẳng chịu truy cứu làm rõ (việc này), lại lấy việc tử thủ của hai ông ra mà trách móc, cũng đủ để thấy rằng lũ ấy so với bọn phản loạn cũng cùng một giuộc một loài, toàn đem những phát ngôn bừa bãi ra mà công kích người có tài vậy.

5. 愈嘗從事於汴徐二府(15),屢道於兩府間,親祭於其所謂雙廟(16)者。其老人往往說巡、遠時事雲:南霽雲(17)之乞救於賀蘭(18)也,賀蘭嫉巡、遠之聲威功績出己上,不肯出師救;愛霽雲之勇且壯,不聽其語,強留之,具食與樂,延霽雲坐。霽雲慷慨語曰:“雲來時,睢陽之人,不食月餘日矣!雲雖欲獨食,義不忍;雖食,且不下嚥!”因拔所佩刀,斷一指,血淋漓,以示賀蘭。一座大驚,皆感激為雲泣下。雲知賀蘭終無為雲出師意,即馳去;將出城,抽矢射佛寺浮圖,矢著其上磚半箭,曰:“吾歸破賊,必滅賀蘭!此矢所以志也。 ”愈貞元中過泗州,船上人猶指以相語。城陷,賊以刃脅降巡,巡不屈,即牽去,將斬之;又降霽雲,雲未應。巡呼雲曰:“南八24,男兒死耳,不可為不義屈!”雲笑曰:“欲將以有為也;公有言,雲敢不死!”即不屈。

Phiên âm: Dũ thường tòng sự ư Biện Từ nhị phủ, lũ đạo ư lưỡng phủ gian, thân tế ư kỳ sở vị song triều giả. Kỳ lão nhân vãng vãng thuyết Tuần, Viễn thời sự vân: Nam Tễ Vân chi khất cứu ư Hạ Lan dã, Hạ Lan tật Tuần, Viễn chi thanh uy công tích xuất kỉ thượng, bất khẳng xuất sư cứu; ái Tễ Vân chi dũng thả tráng, bất thính kỳ ngữ, cưỡng lưu chi, cụ thực dữ nhạc, diên Tễ Vân toạ. Tễ Vân khảng khái ngứ viết: “Vân lai thời, Tuy Dương chi nhân, bất thực nguyệt dư nhật hỹ! Vân tuy dục độc thực, nghĩa bất nhẫn, tuy thực, thả bất hạ yến!” Nhân bạt sở bội đao, đoạn nhất chỉ, huyết lâm li, dĩ thị Hạ Lan. Nhất toạ đại kinh, giai cảm kích vị Vân khấp há. Vân tri Hạ Lan chung vô vi Vân xuất sư ý, tức trì khứ; tương xuất thành, trừu Thỉ Xạ phật tự phù đồ, thỉ trứ kỳ thượng chuyên bán tiễn, viết: “Ngô quy phá tặc, tất diệt Hạ Lan! Thử Thỉ sở chí dã.” Dũ Trinh Nguyên trung quá Tứ Châu, thuyền thượng nhân do chỉ dĩ tương ngứ. Thành hãm, tặc dĩ nhận hiếp hàng Tuần, Tuần bất khuất, tức khiên khứ, tương trảm chi; hựu hàng Tễ Vân, Vân vị ứng. Tuần hô Vân viết: “Nam Bát, nam nhi tử nhĩ, bất khả vi bất nghĩa khuất!” Vân tiếu viết: “Dục tương dĩ hữu vi dã; công hữu ngôn, Vân cảm bất tử!” Tức bất khuất.

Dịch nghĩa: Dũ ta từng tòng sự ở hai phủ Biện Châu, Từ Châu, nhiều lần qua lại giữa hai nơi, đích thân hành việc tế tự cho hai vị ở khu miếu gọi là Song Miếu. Những bậc trưởng lão trong phủ vẫn thường nói về những chuyện của Tuần, Viễn rằng: Khi Nam Tễ Vân được Hạ Lan cứu giúp, Hạ Lan vì đố kị thanh uy lẫn công trạng của Tuần, Viễn vượt hơn cả mình nên không chịu phái binh cứu trợ; mến Tễ Vân đã anh dũng lại kiên cường, dù không chịu nghe những lời (khuyến dụ) của Vân song vẫn miễn cương giữ bọn họ lại, lại chuẩn bị thức ăn cùng với nhạc xướng mà mời Tễ Vân an toạ. Tễ Vân khảng khái nói rằng: Lúc Vân này đến, người ở Tuy Dương ngày ngày chẳng được ăn uống gì đã hơn một tháng nay rồi. Vân này dẫu có muốn hưởng thụ một mình, lòng nghĩa khí thực chẳng nỡ (cho mình làm thế); dù cho có ăn đi chăng nữa, (ta) cũng khó lòng mà nuốt được”. Vì thế rút ra thanh gươm đang đeo, cắt đứt một ngón tay, máu tươi bắn ra tứ tung, cầm đưa cho Hạ Lan thấy. Người từ chỗ ngồi bất giác kinh hãi, tất thảy sanh lòng cảm kích làm vì Vân mà rớt nước mắt. Vân biết Hạ Lan sẽ chẳng vì ý mình mà xuất binh nên lập tức ruổi ngựa bỏ đi; lúc sắp ra khỏi thành, Vân rút một mũi tên ra mà bắn vào bức phù đồ ngay phật tự, mũi tên gắm sâu đến (hơn) một nửa, lủng lẳng ghim trong miếng gạch nung phía trên tháp, Vân nói rằng: “Sau khi ta phá giặc trở về, ắt sẽ tiêu diệt Hạ Lan! Mũi tên này chính là vật làm dấu vậy!” Dũ ta vào năm Trinh Nguyên đã đi qua Tứ Châu, người trên thuyền hãy còn chỉ vào đó mà nói với nhau. Thành bị khốn, giặc lấy mũi giáo mà uy hiếp Tuần phải hàng, Tuần không nghe, lập tức bị trói giải đi, lúc sắp chém đầu Tuần, (bọn phản loạn) lại yêu cầu Tễ Vân đầu hàng, Vân không chịu. Tuần thét gọi Vân bảo rằng: “Nam Bát, bậc nam tử hán chỉ chịu chết chứ không thể vì bọn bất nghĩa mà chịu khuất phục được!” Vân cười nói: “Ta cũng muốn làm điều gì đó với đời (để lập công/ vì nghĩa), nay ngài đã nói thế, Vân này há dám không (liều) chết sao!” Vì thế thề chẳng đầu hàng.

Thành bị khốn, giặc lấy mũi giáo mà uy hiếp Tuần phải hàng, Tuần không nghe, lập tức bị trói giải đi, lúc sắp chém đầu Tuần, (bọn phản loạn) lại yêu cầu Tễ Vân đầu hàng, Vân không chịu…

6. 張籍曰:“有于嵩者,少依於巡;及巡起事,嵩常在圍中。籍大歷中於和州烏江縣見嵩,嵩時年六十餘矣。以巡初嘗得臨渙縣尉,好學無所不讀。籍時尚小,粗問巡、遠事,不能細也。云:巡長七尺餘,鬚髯若神。嘗見嵩讀《漢書》,謂嵩曰:“何為久讀此?“嵩曰:“未熟也。“巡曰:“吾於書讀不過三遍,終身不忘也。“因誦嵩所讀書,盡卷不錯一字。嵩驚,以為巡偶熟此卷,因亂抽他帙以試,無不盡然。嵩又取架上諸書試以問巡,巡應口誦無疑。嵩從巡久,亦不見巡常讀書也。為文章,操紙筆立書,未嘗起草。初守睢陽時,士卒僅萬人,城中居人戶,亦且數万,巡因一見問姓名,其後無不識者。巡怒,鬚髯輒張。及城陷,賊縛巡等數十人坐,且將戮。巡起旋,其眾見巡起,或起或泣。巡曰:“汝勿怖!死,命也。“眾泣不能仰視。巡就戮時,顏色不亂,陽陽如平常。遠寬厚長者,貌如其心;與巡同年生,月日後於巡,呼巡為兄,死時年四十九。”嵩貞元初死於亳宋間。或傳嵩有田在亳宋間,武人奪而有之,嵩將詣州訟理,為所殺。嵩無子。張籍云。

Phiên âm: Trương Tịch viết: “Hữu Vu Tung giả, thiếu y ư Tuần; cập Tuần khởi sự, Tung thường tại vi trung. Tịch đại lịch trung ư Hoà Châu Ô Giang huyện kiến Tung, Tung thời niên lục thập dư hỹ. Dĩ Tuần sơ thường đắc Lâm Hoán huyện úy, hiếu học vô sở bất độc. Tịch thời thượng tiểu, thô vấn Tuần, Viễn sự, bất năng tế dã. Vân: “Tuần trường thất xích dư, tu nhiêm nhược thần. Thường kiến Tung độc “Hán thư”, vị Tung viết: “Hà vi cửu độc thử?” Tung viết: “Vị thục dã”. Tuần viết: “Ngô ư thư độc bất quá tam biến, chung thân bất vong dã. “Nhân tụng Tung sở độc thư, tận quyển bất thố nhất tự. Tung kinh, dĩ vi Tuần ngẫu thục thử quyển, nhân loạn trừu tha trật dĩ thí, vô bất tận nhiên. Tung hựu thủ giá thượng chư thư thí dĩ vấn Tuần, Tuần ứng khẩu tụng vô nghi. Tung tòng Tuần cửu, diệc bất kiến Tuần thường độc thi dã. Vi văn chương, thao chỉ bút lập thư, vị thường khởi thảo. Sơ thủ Tuy Dương thời, sĩ tốt cận vạn nhân, thành trung cư nhân hộ, diệc thả sổ vạn, Tuần nhân nhất kiến vấn tính danh, kỳ hậu vô bất thức giả. Tuần nộ, tu nhiêm triếp trương. Cập thành hãm, tặc phược Tuần đẳng sổ thập nhân toạ, thả tương lục. Tuần khởi toàn, kỳ chúng kiến Tuần khởi, hoặc khởi hoặc khấp. Tuần viết: “Nhữ vật bố! Tử, mệnh dã.” Chúng khấp bất năng ngưỡng thị. Tuần tựu lục thời, nhan sắc bất loạn, dương dương như bình thường. Viễn khoan hậu trưởng giả, mạo như kỳ tâm, dữ Tuần đồng niên sinh, nguyệt nhật hậu ư Tuần, hô Tuần vi huynh, tử thời tứ niên thập cửu”. Tung Trinh Nguyên sơ tử ư Bạc Tống gian. Hoặc truyền Tung hữu điền tại Bạc Tống gian, vũ nhân đoạt nhi hữu chi, Tung tương Nghệ châu tụng lí, vi sở sát. Tung vô tử. Trương Tịch vân.

Dịch nghĩa: Trương Tịch nói rằng: “Có người tên Vu Tung, thuở thiếu thời theo Trương Tuần, đến khi Tuần khởi binh, Vu Tung từng bị kẹt trong vòng vây thành. Trương Tịch vào năm Đại Lịch tại huyện Ô Giang ở Hoà Châu có bắt gặp Vu Tung, lúc ấy Tung đã hơn 60 tuổi rồi! Bởi vì Tuần thuở đầu từng được bổ làm huyện úy ở huyện Lâm Hoán, nổi danh hiếu học, không có khi nào là không tìm tòi, nghiên cứu. Tịch khi ấy vẫn còn trẻ người non dạ, hỏi han hãy còn thô vụng những chuyện của Tuần, Viễn, chẳng biết tỉ mỉ, cẩn thận. Nói rằng: Trương Tuần cao hơn bảy thước, râu ria như thần. (Có lần) Tuần từng thấy Tung đọc “Hán thư”, mới nói với Vu Tung rằng: “Cớ sao hãy còn nghiền ngẫm sách này lâu đến như vậy?” Tung nói rằng: “Ta chưa thuộc nhuyễn”. Tuần nói rằng: “Ta đọc sách không quá ba lần, nhưng đến chết cũng không quên”. Nhân đó bèn đọc thuộc sách mà Tung đương đọc, thuộc hết một quyển, chẳng sai một từ. Tung kinh ngạc, cho rằng do Tuần ăn may mới đọc thuộc được, vì thế mới lấy bừa một quyển bất kì trong túi (cho Tuần đọc) hầu thử lòng anh ta, không có quyển nào là không thuộc làu làu. Tung lại lấy ra trên giá những cuốn sách (lạ) để vừa thử vừa hỏi Trương Tuần, Tuần ứng khẩu đọc thuộc mà chẳng có chút do dự. Tung theo Tuần đã lâu, cũng chưa hề thấy Tuần thường đọc sách vậy. Làm văn thơ, cầm giấy bút (ngồi) viết sách, song chưa từng đưa ra bản thảo. Lúc đầu khi trấn thủ ở Tuy Dương, binh sĩ gần ngàn người, trong thành thì ở nhà dân, cũng gần vài ngàn, Tuần chỉ nhân gặp một lần đã hỏi thăm danh tính, về sau chẳng có người nào là (Tuần) không biết. Khi Tuần nổi giận, râu ria trương căng lên. Đến khi thành bị vây, quân giặc bắt trói hàng chục người của Tuần ngồi xuống, sắp sửa giết. Tuần đứng lên đi đái, bọn người của Tuần thấy y đứng dậy, có kẻ cũng đứng dậy theo, có kẻ ngồi đó rỏ nước mắt. Tuần nói: “Các ngươi không được sợ hãi! (Sống) Chết (chẳng qua) chỉ là số mệnh thôi”. Bọn người ngồi khóc chẳng dám ngẩng đầu lên nhìn. Lúc Tuần bị giết, sắc mặt không chút hoảng sợ, vênh vang dương dương như lúc bình thường. Viễn là người có lòng khoan hậu, dung mạo cũng như bổn tâm, sinh cùng năm với Tuần, nhưng ngày sinh tháng đẻ thì muộn hơn Tuần, cho nên gọi Tuần là anh, khi chết đã được 49 tuổi. Vu Tung đầu năm Trinh Nguyên chết ở giữa hai châu Bạc và châu Tống. Có người nói lại rằng Tung có một khoảnh ruộng ở giữa hai châu, lũ lính thú (dùng vũ lực) mới nhân đó cưỡng đoạt mà có được phần đất của y, khi Tung sắp đến Nghệ châu để tố cáo thì bị kẻ khác giết. Tung không có con. Trương Tịch nói (Những điều này đều do Trương Tịch nói cho Hàn Dũ biết).

Đến khi thành bị vây, quân giặc bắt trói hàng chục người của Tuần ngồi xuống, sắp sửa giết. Tuần đứng lên đi đái, bọn người của Tuần thấy y đứng dậy, có kẻ cũng đứng dậy theo, có kẻ ngồi đó rỏ nước mắt…

Nguyễn Thanh Lộc dịch

Nguồn dịch: Vương Mậu, Hàn Dũ Xương Lê văn bình chú độc bản, Thượng Hải Đại Đông Thư Cục, Thượng hải, 1924. Đăng trên baike.baidu.com. Link: https://baike.baidu.com/item/%E5%BC%A0%E4%B8%AD%E4%B8%9E%E4%BC%A0%E5%90%8E%E5%8F%99 (Truy cập 30/05/2020)

Chú thích

(1) Trương Tịch (Ước chừng vào khoảng 767 – 830): Tự là Văn Xương, người ở quận Ngô (nay thuộc Tô Châu, tỉnh Giang Tô ngày nay), là một thi nhân nổi tiếng đời Đường, là học trò của Hàn Dũ.

(2) Lý Hàn: Tự là Tử Vũ, người ở Tán Hoàng vùng Triệu Châu (Nay thuộc huyện Nguyên Thị tỉnh Hà Bắc), làm quan đến chức Hàn Lâm Học Sĩ. Là bằng hữu tốt với Trương Tuần, lúc làm khách trọ ở Tuy Dương, từng đích thân thấy chuyện Trương Tuần cố thủ đánh trận với giặc. Sau khi Tuần mất, có người vu cho ông hàng giặc, nhân đó mà soạn “Trương Tuần truyện” dâng lên vua Túc Tông, cùng với đó là “Tiến Trương Trung Thừa truyện biểu”. (Trong Toàn Đường văn, quyển 3).

(3) Trương Trung Thừa (709 – 757), tức Trương Tuần, Trung Thừa, Trường Tuần được giữ chức quan do triều đình bổ sung vào làm trấn thủ ở Tuy Dương.

(4) Trong “Cựu Đường thư – Văn Uyển truyện” có viết: Hàn “vi văn tinh mật, dụng tứ khổ sáp” 为文精密,用思苦涩 (làm văn tinh thâm, kín đáo, dùng ý tứ sâu xa, khó hiểu).

(5) Hứa Viễn (709 – 757): Tự là Lệnh Uy, người Diêm Quan ở Hàng Châu (nay thuộc huyện Hải Ninh tỉnh Chiết Giang). Lúc loạn An Sử nổ ra, nhậm chức Thái thú ở Tuy Dương, sau cùng với Trương Tuần cố thủ trong thành, khi thành bị phá thì bị giặc trói đến Lạc Dương, khi đến Yển Sư thì bị hại.

(6) Lôi Vạn Xuân: Là dũng tướng làm bộ hạ dưới trướng của Trương Tuần.

(7) Tháng giêng năm 757, quân phản loạn An Khánh Tự, bộ hạ của Doãn Tử Kỳ dẫn 13 vạn binh bao vây Tuy Dương, Hứa Viễn cấp báo cho Trương Tuần biết, Trương Tuần từ Ninh Lăng dẫn binh vào thành Tuy Dương (Trong Tư trị thông giám quyển thứ 219).

(8) Tháng 10 cùng năm, Tuy Dương loạn lạc, Trương Tuần, Hứa Viễn bị giặc bắt. Trương Tuần cùng với bộ tướng của mình bị giặc chém đầu, còn Hứa Viễn bị giặc đưa đến Lạc Dương.

(9) Căn cứ vào “Tân Đường thư – Hứa Viễn truyện”, sau khi dẹp xong loạn An Sử, vào năm Đại Lịch, con của Trương Tuần là Trương Khứ Bệnh khinh suất tin theo lời khiêu khích của lũ tiểu nhân, dâng thư lên Đại Tông, cho rằng sau khi thành bị phá, quân Trương Tuần bị hại, chỉ có Hứa Viễn là còn sống sót, cho rằng Viễn đầu hàng quân giặc, muốn phế đoạt phẩm tước của Hứa Viễn. Trong chiếu lệnh cho con của Hứa Viễn là Hứa Nghiễn và Khứ Tật cùng bách quản thẩm định sự việc. Lưỡng gia tử là để chỉ Trương Khứ Tật và Hứa Hiện.

(10) Lúc Doãn Tử Kỳ bao vây thành Tuy Dương, trong thành cạn kiệt lương thực, quân dân phải bắt chuột bắt chim để mà ăn, cuối cùng bắt cả những tỳ thiếp và những người già yếu sung vào bữa ăn. Đương lúc ấy, Trương Tuần đã giết cả ái thiếp, Hứa Viễn cũng giết luôn cả nô bộc, thị tỳ của mình để sung cơ cho binh lính.

(11) Lúc xảy ra loạn An Sử, Trường An và Lạc Dương chìm ngập trong màu chiến loạn, Huyền Tông phải chạy trốn qua đất Tây Thục, tình hình nhà Đường trở nên nguy kịch hơn bao giờ hết.

(12) Sau khi Tuy Dương bị bao vây, bọn quân Tiết độ sứ ở Hà Nam do Hạ Lan Tiến Minh cầm đầu thu binh quan sát, không cho đội quân tới ứng cứu.

(13) Trương Tuần và Hứa Viễn phân binh ra mà giữ thành, Trương trấn giữ phần phía Đông Bắc, Viễn trấn giữ phần phía Tây Nam. Khi thành bị phá thì giặc đầu tiên tấn công vào thành từ vùng Tây Nam nơi mà Viễn trấn giữ cho nên mới có thuyết ấy.

(14) Câu này có ý rằng công trạng của hai ông, người đời trước đã có những đánh giá thỏa đáng rồi. Ở đây căn cứ vào Tiến Trương Trung Thừa truyện của Lý Hàn mà nói: “Tuần thối quân Tuy Dương, ách kỳ yết lĩnh, tiền hậu cự thủ, tự Xuân tồ Đông, đại chiến sổ thập, tiểu chiến sổ bách, dĩ thiểu kích chúng, dĩ nhược kích cường, xuất kỳ vô cùng, chế thắng như thần, sát kỳ hung xú cửu thập dư vạn/ Tặc sở dĩ bất cảm việt Tương Dương nhi thủ Giang Hoài, Giang Hoài sở dĩ bảo toàn giả, Tuần chi lực dã”. (巡退军睢阳,扼其咽领,前后拒守,自春徂冬,大战数十,小战数百,以少击众,以弱击强,出奇无穷,制胜如神,杀其凶丑九十余万。贼所以不敢越睢阳而取江淮,江淮所以保全者,巡之力也 – Tuần lui binh về Tuy Dương, chẹn đứng đường suất binh của giặc, trước sau chống cự trấn giữ, từ Xuân đến Đông, trận lớn thì vài chục, trận nhỏ cũng vài trăm, lấy ít chống nhiều, lấy yếu chống mạnh, bày kế khác lạ liên tục, chế ngự gánh vác như thần, đánh tan bọn giặc ác hơn 9, 10 vạn binh. Giặc sở dĩ không dám vượt qua Tuy Dương mà chỉ giữ ở Giang Hoài, Giang Hoài sở dĩ được bảo toàn cũng là do công sức của Tuần vậy).

(15) Hàn Dũ từng lần lượt ở Biện Châu (Nay thuộc thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam), Từ Châu nhậm chức quan. Đời Đường gọi là “mạc liêu vi tòng sự” nghĩa là phụ tá lãnh trách nhiệm giải quyết.

(16) Sau khi Trương Tuần và Hứa Viễn mất, người đời sau lập miếu thờ tự hai người ở Tuy Dương, xưng là “song miếu”

(17) Nam Tễ Vân (? – 757): Người ở Đốn Khâu, Ngụy Châu (Nay nằm ở Tây Nam huyện Thanh Phong tỉnh Hà Nam). Khi xảy ra phản loạn An Lộc Sơn, ông được điều đi nghị sự với Trương Tuần ở Tuy Dương, vì cảm mến Trương nên bèn lưu ông ở lại làm bộ tướng.

(18) Hạ Lan: Họ Phục, chỉ Hạ Lan Tiến Minh. Lúc đó ông làm Ngự sử đại phu, Tiết độ sứ Hà Nam, làm Trú Tiết ở Lâm Hoài.

Leave a comment