DỊCH THUẬT (PHẦN II):他在人間見“鬼”:“詩鬼”李賀與魑魅魍魎的世道 (SỐNG TRONG CÕI NHÂN HOÀN MÀ THẤY ĐƯỢC MA QUỶ – (Bàn về) Thi quỷ Lý Hạ cùng cõi đời “si, mị, võng, lượng” (Yêu ma quỷ quái))

Ngã đương nhị thập bất đắc ý, nhất tâm sầu tạ như khô lan” (我當二十不得意,一心愁謝如枯蘭 – Hai mươi tuổi đầu bất đắc ý, Một mảnh tâm sầu ví lan khô).

三.心死之人,何以為生?Thứ ba, tâm tử chi nhân, hà dĩ vi sinh? (Người mà tâm họ đã chết, thì vin vào cớ gì để mà sống?)

Người đời nay phẩm bình Lý Hạ, song song với những sự đồng ý và đồng tình thì những cũng tồn tại rất nhiều những khiếm khuyết.

Người đời nay hễ luận về Lý Hạ, muốn cho lập dị khác người, thì cứ mỗi lời nói lại nhấn đến các vấn đề tâm lí học, nối kết với nguyên mẫu, hoặc bàn về triết học của cái chết trong triết học (tử vong học) cùng với thẩm mỹ về cái chết.

Bạn đã từng chết chưa? Chưa! Vậy lấy tư cách nào mà dùng cái chết để bình phẩm người khác? Lý Hạ tử tâm (chết trong lòng), có thơ minh chứng: “Trường An hữu Nam Nhi, Nhị thập tâm dĩ hủ” (“長安有男兒,二十心已朽” – Trường An có đứa con trai, Mới hai mươi tuổi tâm đà mục suy), lại có thơ “Ngã đương nhị thập bất đắc ý, nhất tâm sầu tạ như khô lan” (我當二十不得意,一心愁謝如枯蘭 – Hai mươi tuổi đầu bất đắc ý, Một mảnh tâm sầu ví lan khô).

Người đã chết rồi, thì làm quỷ để mà sống. Chứ tâm mà chết rồi, biết tìm nơi đâu ngõ hầu an thân mà tồn tại? Người mà không tử tâm, không thể hiểu được Lý Hạ vậy.

Sự đồng lý và đồng cảm, là chuyên gia tư vấn tâm lý mà ai cũng cần phải có. Nhưng đồng cảm đối với việc thâm giải thơ cả thôi thì chưa đủ. Việc lý giải thơ ca cần một thứ, gọi là “đồng/cùng cảnh” 共境. Phải bước vào cảnh giới nghệ thuật của thi nhân, đem thơ họ mà chuyển hóa vào tâm thức của bản thân, ta mới có tư cách để thể chứng được thế giới ngôn từ biểu đạt của họ.

Phạm trù “bản năng” trong tâm lý học đã từng là một công cụ phân tích phổ biến (trong văn học). Nhà tâm lý học Sigmund Freud (Phất Lạc Y Đức) (cuối cùng) đã phân chia bản năng con người thành hai loại lớn bao gồm Bản năng sống và Bản năng chết.

Tâm của Lý Hạ tuy đã chết nhưng ông ta vẫn còn đang sống, đang hiện diện, đang ngự trị, vẫn đương mang trên lưng túi thơ (túi khí) cũ kĩ, cưỡi trên lưng lừa tìm ý kiếm thơ. Tâm hồn ông ta, không hẳn đã thực chết, mà chính là một người vì thơ ca mà (chấp nhận) sinh tồn.

Khi mẹ Lý Hạ sai nô tì tìm hiểu trong túi thơ (ông thường đeo), thấy những tờ giấy được ghi chép (ý thơ) ra rất nhiều, tức thì giận dữ mà nói rằng: “Thằng nhỏ này chắc phải mửa cả tim ra mới chịu thôi!” (是兒要嘔出心乃已耳- Thị nhi yếu đương ẩu xuất tâm nãi dĩ nhĩ!)

Thằng nhỏ này chắc phải mửa cả tim ra mới chịu thôi!” (是兒要嘔出心乃已耳- Thị nhi yếu đương ẩu xuất tâm nãi dĩ nhĩ!)

Quả nhiên cái chết của Lý Hạ, là do viết thơ đến mức khạc tim phún huyết mà chết. Thế thì, bản năng chết của Lý Hạ nằm ở sự tuyệt vọng đến nỗi tử tâm trước cái cảnh đời nơi yêu ma quỷ quái lộng hành (tung hoành), thế nhưng cái bản năng sống thì nằm ở việc không cam chịu tử tâm, hướng đến việc sáng tạo không mệt mỏi, dốc lòng với thơ ca như một cách khát cầu sự sống ngõ hầu tự chứng cho sự tồn tại của bản thân (trên thế giới này).

Lý Hạ đã đặt trọn trái tim mình, kí thác sự tồn tại của mình vào trong thơ ca. Tâm hồn của ông nằm trong thể xác, da thịt ông nằm ở trong thơ. Lý Hạ là suối nguồn thơ ca chảy trôi (trong dòng hải lưu văn học). Người thi nhân ấy hướng đến sự hy sinh hết mình cho thơ ca. Trong sự hy sinh ấy, thì, sống có nghĩa là chết mà chết cũng có nghĩa là sống. Người sống thì không thể bước vào cõi chết mà người chết thì không thể bước vào cõi của người sống, tất cả đều không phải là thái cực trong cõi tình thơ (ý họa).

Có người khi phân tích về nguyên mẫu hình tượng quỷ quái trong thơ Lý Hạ, đại để (cho rằng nó là) khởi nguồn của tín ngưỡng văn hóa nguyên thủy loài người, tức những hình tượng về ma quỷ này đã thâm nhập vào sâu trong cõi vô thức tập thể của con người (khiến nó trở nên có thật trong tiềm thức của con người). Ở đây (ta đang) sử dụng kiến thức lý luận của Carl Jung (Vinh Cách) mà giải nghĩa thơ ca của Lý Hạ. Tuy nhiên, quan điểm này lại thiếu mất phần soi rọi trên bình diện văn hóa học.

Những ma quỷ mà Lý Hạ nhìn thấy đều ở trong thế gian. Yêu quái trong cõi nhân hoàn, là biểu hiện rõ ràng nhất cho thứ tâm ma ngự trong tiềm thức người đời. Mọi nguyên mẫu, mô thức về yêu ma trong lòng người hiển hiện rõ nhất (khi ta xét chúng) dưới bình diện văn hóa, đây không chỉ là vấn đề về phương diện tâm lý mà còn là vấn đề về phương diện văn hóa.

Từ những yêu ma quỷ quái biểu hiện trong văn hóa, (có thể thấy) nếu mổ xẻ các góc nhìn thì (vấn đề này) không chỉ chuyển hóa từ (vấn đề) tâm lý sang (vấn đề) văn hóa mà còn nằm ở vấn đề: Cấu trúc nội tại của văn hóa có thể được giãi tỏ bằng bản thể của chính biểu hiện.

Ma quỷ không có chút liên hệ nào đối với những gì còn sót lại (khai quật được) từ các thánh tích của những tang lễ trong thời kỳ đồ đá mới (của tộc người nguyên thủy), những ma quỷ ở trong Sở từ cũng không có mối quan hệ nào rõ ràng cả. Thật trúc trắc nếu đem hình tượng ma quỷ mà Lý Hạ đã viết rồi thiên về dưới nguyên mẫu tâm lý văn hóa nguyên thủy, không nhẽ phải thoát ly hẳn văn bản mà đi “trèo cây tìm cá” (duyên mộc cầu ngư) ư?

Chính sự tranh giành lợi ích giữa các nhóm ích lợi đã tạo ra một xã hội ăn thịt người. Ăn thịt người không phải là (một thứ) lễ giáo, mà là lòng người không chấp nhận (làm theo) tôn kính lễ giáo. Lý Hạ không viết về lễ giáo, lại càng không viết về (dạng thức) nhân tâm. Bởi vì lễ giáo và lòng người sớm đã bị yêu ma quỷ quái che lấp mất, thế cho nên Lý Hạ mới viết về quỷ quái yêu ma. Viết để đả phá yêu ma, để lòng người tự nhiên hiển lộ.

(Trong) cuộc đời của Lý Hạ (chỉ) có thơ, thơ của Lý Hạ là kết quả cho mối quan hệ giữa ông với cuộc xung đột với thế giới. Trong thơ của Lý Hạ còn có những cuộc đụng độ giữa người và ma quỷ trong cõi nhân gian. Điều này đồng nghĩa với việc không thể nói rằng thơ của Lý Hạ hàm chứa thứ triết học về cái chết hay (quan niệm) thẩm mỹ về cái chết. Việc biểu hiện cái chết bằng nghệ thuật, không có nghĩa là tác phẩm nghệ thuật sẽ chứa đựng (thể hiện) lý thuyết mỹ học về cái chết.

Thơ Lý Hạ, nói chính xác, đó là biểu hiện cho sự tha hóa của con người. Sự tha hóa ấy được áp khỏa bằng một thứ sinh vật vô nhân, đó là “quỷ”, là “ma”. Cho nên lý giải thơ ca Lý Hạ phải dựa trên quan điểm lịch sử về sự tha hóa của con người trong lịch sử Trung Hoa.

Lịch sử không thể được giả định. Do đó, sử dụng các lý thuyết về tâm lý học để mà giải thích Lý Hạ, không phải (nên) đặt ra một giả thiết rằng người sắp chết đi ví như một đối tượng (tật bệnh) cần được tra vấn, sau đó, đi ngược lại với những quan điểm lịch sử (mà bản thân nó không thể tạo dựng nên giả thiết) hay sao?

四.向死而在,忘生忘死 – Thứ tư, hướng tử nhi tại, vong sinh vong tử (hướng về cái chết mà tồn tại, quên bẵng đi cả việc sinh tử)

Về điểm này, để trình bày những đặc điểm nghệ thuật trong thơ ca của Lý Hạ, chúng ta cần phải đọc lại một lần nữa thi tác “Nhạn môn thái thú hành” 《雁門太守行》đã được đưa vào trong giáo trình ngữ văn sơ trung (THCS):

Mùa đông Nguyên Hòa năm thứ 9, quân Chấn Vũ làm loạn. (Nhà vua) ban chiếu cho Trương Hú làm tiết độ sứ, dẫn quân Hạ Châu gồm 2000 lính đi đánh dẹp. Chấn Vũ tức thì đóng đô ở Nhạn Môn, Hạ chịu trách nhiệm định liệu việc ấy (tìm cách) ngõ hầu đuổi cổ chúng đi

黑雲壓城城欲摧,甲光向日金鱗開。
角聲滿天秋色裡,塞上燕脂凝夜紫。
半卷紅旗臨易水,霜重鼓寒聲不起。
報君黃金台上意,提攜玉龍為君死。

Phiên âm

Hắc vân áp thành thành dục tồi,
Giáp quang hướng nhật kim lân khai.
Giốc thanh mãn thiên thu sắc lý,
Tái thượng yên chi ngưng dạ tử.
Bán quyển hồng kỳ lâm Dịch thuỷ,
Sương trọng cổ hàn thanh bất khởi.
Báo quân Hoàng Kim đài (12) thượng ý,
Đề huề Ngọc Long vi quân tử.

Dịch nghĩa

Mây đen trên thành như muốn đè nát thành,
Áo giáp vàng lóng lánh ánh vẩy cá trong nắng.
Tiếng tù và thổi vang trời trong sắc thu,
Ban đêm quan ải màu tía như phấn kẻ lông mày.
Cờ đỏ cuốn một nửa khi quân tới sông Dịch,
Sương mù dày, trời lạnh, trống thúc quân không nổi.
Để báo đáp ơn vua qua ý nghĩa của đài Hoàng Kim,
Nguyện đem kiếm Ngọc Long vì vua mà chiến đấu tới chết.

Đầu tiên, bài thơ này được viết theo thể Ca Hành. “Nhạn môn thái thú hành” là một đề tài cũ của thể tài nhạc phủ, nó chuyển tải thông điệp: Ca thán, tán tụng những thành tựu chính trị của Vương Hoán thời Đông Hán.

Thứ hai, chủ đề chính của bài thơ trên xưa nay vốn đã có những ý kiến, lập trường khác nhau, hỗn tạp. Thế nhưng, nếu nắm bắt được tính chất nghệ thuật của chính bài thơ sau đó giải nghĩa (những tính chất đó), tự nhiên (ta) có thể tránh được một vài vấn đề (phức tạp). Những vấn đề không đầy đủ luận chứng lịch sử, vốn đã vô nghĩa (thì không cần bàn đến).

(Liên quan đến luận điểm này) Diêu Văn Tiếp 姚文燮 trong “Xương cốc tập chú” 《昌谷集注》cho rằng: “Mùa đông Nguyên Hòa năm thứ 9, quân Chấn Vũ làm loạn. (Nhà vua) ban chiếu cho Trương Hú làm tiết độ sứ, dẫn quân Hạ Châu gồm 2000 lính đi đánh dẹp. Chấn Vũ tức thì đóng đô ở Nhạn Môn, Hạ chịu trách nhiệm định liệu việc ấy (tìm cách) ngõ hầu đuổi cổ chúng đi“.

元和九年冬,振武軍亂。詔以張煦為節度使,將夏州兵二千趣鎮討之。振武即雁門郡,賀當擬此以送之。

Diêu Văn Tiếp 姚文燮 trong “Xương cốc tập chú” 《昌谷集注》

Thứ ba, bài thơ trở thành trung tâm (tiêu điểm) tranh luận (bút chiến) của người đời sau vì bút pháp kết hợp giữa thực và hư (nội hữu trong lời thi ý văn), cho nên có nhiều người đã căn cứ vào đó mà thay đổi một vài điểm khác với bản truyện gốc.

Ví như Vương An Thạch cho rằng: “Phương hắc vân áp thành chi thời, khởi hữu hướng nhất chi giáp quang“. (“方黑雲壓城之時,豈有向日之甲光?- Đương lúc mây đen tế lấp thành quách, há có áo giáp lóng lánh ánh vàng hướng mình trong nắng ư?)

Cho nên Thanh Vương Kì 清王琦 khi chú trong “Lý Trường Cát thi ca” 《李長吉歌詩》, đã thay đổi chữ “nhật” 日 trong câu “Giáp quang hướng NHẬT kim lân khai” thành chữ “nguyệt” 月. Rồi chú thích rằng: Bài thơ nói rằng đoàn binh xuất quân trong đêm, đến khi mây quang, để lộ ánh trăng sáng vặc cùng giao hòa (lóng lánh) với áo giáp.

此詩言中夜出兵,至雲開透漏月光與甲相映.

Thanh Vương Kì 清王琦 khi chú trong “Lý Trường Cát thi ca” 《李長吉歌詩》

Mà Dương Thăng Am 楊昇庵 (tức Dương Thận) thì lấy quan niệm “Phàm binh vi thành, tất hữu quái vân chi biến” (凡兵圍城,必有怪雲之變 – Phàm quân lính vây mặt thành quách, ắt có mây lạ biến hiện) mà lý giải. Tuy nhiên, nhận định này là không hợp lý, rốt cuộc cũng chỉ là lấy kinh nghiệm mà bàn luận hời hợt, sơ sài.

Câu kết, tác giả có viết “Báo quân hoàng kim đài thượng ý“, có thể biết được việc miêu cảnh tả vật trong bài thơ trên đều nhằm để biểu đạt ý này. Bất luận trận chiến này có gian nan đến đâu, thắng bại có khó lường đến mức nào, chết tức là chết, duy sự tín nhiệm và phó thác của nhà vua, ngay cả khi phải chết, cũng phải tận lực, sống mái một trận (một phen).

Do đó, khi đọc lại những câu như “Giáp quang hướng nhật kim lân khai”, ta càng thấu ngộ được rằng đây không chỉ đơn thuần tả cảnh mà cảnh tự tâm sinh, là sự dung hòa giữa tình và cảnh. Nếu thoát li khỏi sự dung hòa giữa tình và cảnh ra mà bàn về bài thơ “Nhạn môn thái thú hành” thì ta sẽ chỉ thâu được mớ tơ quấn bện rối rắm rằng có hay không phù hợp với thực tại mà thôi. Cảm thi như thế, cũng có thể sanh tâm buồn thương.

Tái thượng yên chi ngưng dạ tử“, từ “yên chi” 胭脂 ở đây chỉ máu huyết đã đông cứng. Từ “dạ sắc” tức ám chỉ máu màng bị văng tung tóe tạo thành thứ sắc tím kì dị. Ở đây nói rõ tới việc có thể đã từng xảy ra một trận chiến oanh tạc, hơn nữa còn có những chiến sĩ vong trận.

Người thời nay đa phần cho rằng bài thơ này nhấn mạnh đến quyết tâm của những tướng sĩ trấn giữ biên cương thề chết hầu báo thù cho quốc gia. Tuy nhiên, nếu đọc kĩ hơn, thì cách lí giải này thực sự quá trống rỗng.

Tái thượng yên chi ngưng dạ tử“, từ “yên chi” 胭脂 ở đây chỉ máu huyết đã đông cứng. Từ “dạ sắc” tức ám chỉ máu màng bị văng tung tóe tạo thành thứ sắc tím kì dị. Ở đây nói rõ tới việc có thể đã từng xảy ra một trận chiến oanh tạc, hơn nữa còn có những chiến sĩ vong trận.

Quân đội vây thành, giao tranh có được có mất, cờ đỏ (tả tơi) quấn nửa, tiếng trống bặt im, sĩ khí không còn hăng hái. Do đó, cái quyết tâm chết cho tổ quốc, thực chỉ do (bản thân tử sĩ) bị ép đặt vào chốn tử địa. Không phải họ muốn hy sinh vì tổ quốc mà vì bất đắc dĩ (thời thế) buộc họ phải làm vậy.

Thế nhưng, những người lính không chọn cách đầu hàng hay bỏ thành mà tẩu thoát, càng không phải đợi chờ cái chết. Mà là nguyện “đem kiếm Ngọc Long“, quyết một trận sống mái. Ngay cả khi sợ phải qua sông Dịch, cũng không được phép quay về, càng phải vì vua mà liều chết.

Do đó cái lòng phó mặc cái chết, đền trả non sông, mới là cái tư tưởng hạt nhân (nằm xuyên suốt) trong “Nhạn môn thái thú hành” của Lý Hạ. Bài thơ nhấn mạnh đến cái quyết tâm khởi sinh trong lúc tuyệt vọng, không phải là cái quyết tâm tự phát mà có. Tuy nhiên, đó lại là quyết tâm tự giác (thuộc về ý thức tự giác), không phải là sự gượng ép hay bất đắc dĩ.

Lại đọc câu “Giáp quang hướng nhật kim lân khai“, không phải chỉ miêu tả trạng thái của tâm trí và quyết tâm hay sao?

Do đó khi đọc thơ của Lý Hạ, cốt không phải là đọc về tính quỷ bên trong thơ mà ông viết, mà phải đọc tâm ý khởi sự từ bên trong của ông.

Song phàm có thể thấy được cái chết, cả những người cận kề cái chết, đều là những người đã quẳng đi nỗi sợ trong bối cảnh văn hóa thế tục. Không sợ hãi cái chết tức đối với cái chết không sanh lòng phân biệt, tự nhiên sống chết nhất tề đồng điệu. Người như thế, tự trong tâm tiêu dao tự tại.

Lý Hạ ở trong nhân gian mà thấy được quỷ, bởi vì yêu ma quỷ quái ở đời hoành hành tứ tung. Lý Hạ viết quỷ vào trong thơ, cũng tâm y đã sớm đắc chứng tiên quả, tiêu dao ngoại vật trong cõi thi ca nghệ thuật rồi vậy.

Trong thơ của Lý Hạ tồn tại thứ nỗi đau đã bị đẩy lên tới cùng cực, song (người) có thể mang nỗi thống khổ ấy mà kí thác vào thơ ca bằng một tâm hồn nhiệt thành, không phải đã thoát khỏi thống khổ mà tiêu dao tự tại rồi sao?

Lý Hạ ở trong nhân gian mà thấy được quỷ, bởi vì yêu ma quỷ quái ở đời hoành hành tứ tung. Lý Hạ viết quỷ vào trong thơ, cũng tâm y đã sớm đắc chứng tiên quả, tiêu dao ngoại vật trong cõi thi ca nghệ thuật rồi vậy.

Thơ Lý Hạ, nói chính xác, đó là biểu hiện cho sự tha hóa của con người. Sự tha hóa ấy được áp khỏa bằng một thứ sinh vật vô nhân, đó là “quỷ”, là “ma”.

Kẻ sĩ chết vì tri kỷ. Thế mà Lý Hạ rốt cục lại chẳng được công nhận ngay trên chính ngôi đài Hoàng Kim. Ông thậm chí xem nhẹ cả chuyện sinh tử, thế rồi có thể được như thế nào nữa? (Chuyện đó chỉ có trời biết)

(12) Đài do Yên Chiêu Vương thời Chiến Quốc cho xây đắp để cầu hiền tài tới giúp sức, nay ở phía đông nam huyện Dịch, tỉnh Hà Bắc.

作者:盆小猪
链接:https://www.jianshu.com/p/d03cead05f1a
來源:简书

Leave a comment