DỊCH THUẬT: 大龍湫記 ĐẠI LONG TƯU KÝ (Bài ký thác Đại Long) – Lý Hiếu Quang 李孝光

Lý Hiếu Quang

Lý Hiếu Quang 李孝光 (1285 – 1350), tự là Quý Hòa 季和, hiệu là Ngũ Phong 五峰,người đời sau biết ông nhiều hơn với danh xưng “Lý Ngũ Phong” 李五峰, là một học giả, một thi nhân nổi tiếng vào đời Nguyên. Người Lạc Thanh, Ôn Châu, nay thuộc tỉnh Triết Giang. Thuở nhỏ tinh làu bác học, văn chương nổi danh thiên hạ, ông thường trước văn theo phương pháp của người đời xưa, không chạy theo thời thượng, cùng với Dương Duy Trinh 楊維楨 xưng là “Dương Lý“. Thời hoa niên ông ẩn cư dưới núi Ngũ phong Nhạn Đãng, được kẻ sĩ bốn phương gần xa về thụ học, danh lưu truyền khắp. Đến năm Nguyên Thuận Đế 1347 vào tháng 12, ông được vời đến kinh sư, lúc này đã 63 tuổi, nhậm chức Bí Thư Giám Trước Tác Lang, tuy nhiên nhậm chức không lâu thì triều đình xảy chuyện, Đóa Nhi Chích cùng Thái Bình tranh ngôi đoạt vị. Bất mãn vì thế cục, ông cáo lão từ quan, đến năm 1350 thì bệnh và mất ở Thông Châu.

Bài ký “Đại Long tưu ký” là bài du ký nổi tiếng của Lý Hiếu Quang xét về bút pháp. Bài ký dùng nhiều từ ngữ khúc chiết mang ý nghĩa nội hàm cao, hơn nữa còn truyền đạt tư tưởng thuộc học phái thi phú Điền Viên, đề cao lối sống ẩn dật, tự do, tự tại, thanh nhàn, phó mặc thói đời. Bài ký không chỉ miêu tả một cách tỉ mỉ tường minh những giá trị cảnh vật trong nội tại quốc gia mà hơn hết nó còn cổ xúy cho lối sống hòa mình với tự nhiên, theo tư tưởng Lão Trang, vô vi, nghèo mà thanh đạm.

Đại Long tưu 大龍湫: Còn có tên gọi là Đại Bộc Bố 大瀑布, thác cao 190 mét, hình trạng giống như một con rồng dài ngoằn, là một trong ba cảnh đẹp (tuyệt cảnh) nằm ở phía Tây hang núi Nhạn Đãng 雁蕩, đứng gọn trên núi nắm trọn vùng Đông Nam tỉnh Triết Giang. Núi Nhạn Đãng, thuộc nội huyện Bình Dương, thành phố Lạc Thanh, tỉnh Triết Giang, phân thành ba bộ phận Nam Nhạn, Trung Nhạn, Bắc Nhạn, là danh lam thắng cảnh phía Đông Nam Trung Quốc.

Nước thác vuông vức thênh thang, len vào hang động chưa đến năm dặm hơn, đã nghe thấy tiếng nước uyển chuyển chảy ra khỏi hang, người theo vào tâm khảm (đều) rúng động kinh sợ.

Nguyên văn: 大德七年,秋八月,予嘗從老先生來觀大龍湫。苦雨積日夜,是日,大風起西北,始見日出。湫水方大,入谷未到五里餘,聞大聲轉出谷中,從者心掉。望見西北立石,作人俯勢,又如大楹;行過二百步,乃見更作兩股相倚立;更進百數步,又如樹大屏風。而其顛谽谺,猶蟹兩螯,時一動搖,行者兀兀不可入。轉緣南山趾稍北,回視如樹圭。又折而入東崦,則仰見大水從天上墮地,不掛著四壁,或盤桓久不下,忽迸落如震霆。東岩趾有諾詎那庵,相去五六步,山風橫射,水飛著人。走入庵避,餘沫迸入屋,猶如暴雨至。水下搗大潭,轟然萬人鼓也。人相持語,但見張口,不聞作聲,則相顧大笑。先生曰:“壯哉!吾行天下,未見如此瀑布也。”

是後,予一歲或一至。至,常以九月。十月則皆水縮,不能如向所見。今年冬又大旱,客入到庵外石矼上,漸聞有水聲。乃緣石矼下,出亂石間,始見瀑布垂,勃勃如蒼煙,乍大乍小,鳴漸壯急,水落潭上窪石,石被激射,反紅如丹砂。石間無秋毫土氣,產木宜瘠反碧,滑如翠羽鳧毛。潭中有斑魚二十餘頭,聞轉石聲,洋洋遠去,閒暇回緩,如避世士然。家僮方置大瓶石旁,仰接瀑水,水忽舞向人,又益壯一倍,不可複得瓶,乃解衣脫帽著石上,相持扼掔,爭欲取之,因大呼笑。西南石壁上,黃猿數十,聞聲皆自驚擾,挽崖端偃木牽連下,窺人而啼。縱觀久之,行出瑞鹿院前 – 今為瑞鹿寺。日已入,蒼林積葉,前行,人迷不得路,獨見明月,宛宛如故人。

老先生謂南山公也。

Phiên âm: Đại Đức thất niên (1), thu bát nguyệt, dư thường tòng Lão tiên sinh lai quan Đại Long tưu. Khổ vũ tích nhật dạ, thị nhật, đại phong khởi Tây Bắc, thủy kiến nhật xuất. Tưu thủy phương đại, nhập cốc vị đáo ngũ lí dư, văn đại thanh chuyển xuất cốc trung, tòng giả tâm điệu. Vọng kiến Tây Bắc lập thạch, tác nhân phủ nỗ, hựu như đại doanh; hành quá nhị bách bộ, nãi kiến canh tác lưỡng cổ tương ỷ lập; canh tiến bách sổ bộ, hựu như thụ đại bình phong. Nhi kì điên hàm ha, do giải lưỡng ngao, thời nhất động dao, hành giả ngột ngột bất khả nhập. Chuyển duyên Nam Sơn chỉ sao Bắc, hồi thị như thụ khuê. Hựu chiết nhi nhập Đông yêm, tắc ngưỡng kiến đại thủy tòng thiên thượng đọa địa, bất quải trứ tứ bích, hoặc bàn hoàn cửu bất hạ, hốt bính lạc như chấn đình. Đông nham chỉ hữu Nặc Cự Na am, tương khứ ngũ lục bộ, sơn phong hoành xạ, thủy phi trứ nhân. Tẩu nhập am tị, dư mạt bính nhập ốc, do như bộc vũ chí. Thủy hạ đảo đại đàm, hoanh nhiên cạn nhân cổ dã. Nhân tương trì ngữ, đãn kiến trương khẩu, bất văn tác thanh, tắc tương cố đại tiếu. Tiên sinh viết: “Tráng tai! Ngô hành thiên hạ, vị kiến như thư bộc bố“.

Thị hậu, dư nhất tuế hoặc nhất chí. Chí, thường dĩ cửu nguyệt. Thập nguyệt tắc giai thủy súc, bất năng như hướng sở kiến. Kim niên đông hựu đại hạn, khách nhập đáo am ngoại thạch cang thượng, tiệm văn hữu thủy thanh. Nãi duyên thạch cang hạ, xuất loạn thạch gian, thủy kiến bộc bố thùy, bột bột như thương yên, sạ đại sạ tiểu, minh tiệm trang cấp, thủy lạc đàm thượng oa thạch, thạch bị kích xạ, phản hồng như đan sa. Thạch gian vô thu hào thổ khí, sản mộc nghi tích phản bích, cốt như thúy vũ phù hài. Đàm trung hữu ban ngư nhị thập dư đầu, văn chuyển thạch thanh, dương dương viễn khứ, nhàn hạ hồi hoãn, như tị thế sĩ nhiên. Gia đồng vạn trí đại bình thạch bàng, ngưỡng tiếp bộc thủy, thủy hốt vũ hướng nhân, hựu ích trang nhất bội, bất khả phức đắc bình, nãi giải y thoát mạo trứ thạch thượng, tương trì ách kiên, tranh dục thủ chi, nhân đại hô tiếu. Tây Nam thạch bích thượng, hoàng viên sổ thập, văn thanh giai tự kinh nhiễu, vãn nhai đoan yển mộc khiên liên hạ, khuy nhân nhi đề. Túng quan cửu chi, hành xuất Thụy Lộc viện (2) tiền – Kim vi Thụy Lộc tự. Nhật dĩ nhập, thương lâm tích diệp, tiền hành, nhân mê bất đắc lộ, độc kiến minh nguyệt, uyển uyển như cố nhân.

Lão tiên sinh vị Nam Sơn Công dã.

Dịch nghĩa: Đại Đức năm thứ 7, mùa thu tháng 8, ta đã từng theo lão tiên sinh đi ngắm thác Đại Long. Mưa triền miên tang tóc cứ tích tụ lại, ngày đêm không dứt, ngày hôm đó, gió lớn nổi dậy từ hướng Tây Bắc, chợt thấy vừng dương từ xa mọc lên. Nước thác vuông vức thênh thang, len vào hang động chưa đến năm dặm hơn, đã nghe thấy tiếng nước uyển chuyển chảy ra khỏi hang, người theo vào tâm khảm (đều) rúng động kinh sợ. Vọng xa về phía Tây Bắc mà đứng trên tấm cự thạch, hình hài nên thế dáng người luồn kẻ cúi, lại trông như cột lớn sừng sững; đi chừng hơn hai trăm bước nữa, bèn thấy đỉnh núi ủy uyển biến hóa tựa hồ đôi chiếc bắp vế dựa vào nhau mà đứng; lại tiến thêm chừng trăm bước, thì trông như tầng cây cao kiên cố đứng chắn gió lớn. (Mà) Đỉnh núi (toạc ra) lộ vẻ sâu thẳm hoang sơ, giống như hai cái càng cua (cứng cáp), thỉnh thoảng lại dao động khe khẽ, khách bộ hành chật vật lắm cũng không thể bước vào. Di chuyển men theo chân núi phía Nam hơi chếch về phía Bắc, quay lại đoái nhìn tựa như ngọc khuê (trên nhọn dưới vuông). Lại đổi hướng mà đến dốc núi phía Đông, tắp liền ngẩng đầu thấy dòng nước lớn ào ào chảy từ trên trời tuột xuống mặt đất, (nhưng) không thấm móc vào bốn bên vách đá, có lúc thác nước lưu luyến hồi lâu không muốn rơi xuống, rồi bất chợt tung tóe như sấm vang chớp giật. Phía Đông chân hang lại có miếu thờ Nặc Cự Am (tôn giả), cùng đi chừng năm sáu bước nữa, (lại thấy) gió núi lồng lộng, nước bắn lên người. Bước vào trong am thờ mà lánh ướt, bọt nước còn vương (hung hăng) tóe thẳng vào gian thờ, cứ như từng cơn mưa dữ dội ào ạt ập đến. Nước trôi xuống xóc thẳng vào miền đầm lầy rộng lớn, ầm ầm như muôn người vỗ trống khua chiêng. Khách du lãng (cứ thế mà) cùng nhau trò chuyện huyên thuyên, nhưng rồi khi thấy cửa hang mở toang rộng toác, tiếng người bặt im, (và rồi) ngoảnh lại nhìn nhau mà vui cười khoái chí. Lão tiên sinh nói rằng: “Tráng lệ thay! (Hùng vĩ thay!) Ta đi khắp thiên hạ, chưa thấy thác nước nào như thế!”

Nước trôi xuống xóc thẳng vào miền đầm lầy rộng lớn, ầm ầm như muôn người vỗ trống khua chiêng.

Sau này, ta cứ một năm lại đến một lần. Lúc đến, thường là vào tháng 9. Đến tháng 10 thì nước thác giảm đi hẳn, không thể thấy được những cảnh tượng như trước. Mùa đông năm nay lại rơi vào thời đại hạn, ta lại đến, bước lên trên cây cầu đá ngoài am thờ Nặc Cự Na, dần dần nghe thấy có tiếng nước sột soạt chảy. (Ta) Bèn men dưới chân cầu đá, ra khỏi đám cự thạch nhốn nháo lộn xộn, ban đầu, ta thấy thác nước buông xòa rủ xuống, ùn ùn như khói lam bốc lên, chợt mạnh chợt yếu, và rồi càng gần tiếng nước lại càng gấp gáp, ào ạt mạnh bạo, nước rơi xuống đầm sâu vào lỗ trũng của mặt đá, bề mặt đá động bị (nước thác) tuột mạnh tung vọt lên cao, phản lại tạo thành màu đỏ ví như màu chu sa (dùng để ấn triện). Giữa những tảng đá tuyệt không có chút mảy may vết bùn nhơ, cây con đáng ra phải xuất dáng gầy còm, cằn cỗi lại phản chiếu thứ ánh lơ như màu ngọc bích, bóng láng tựa hồ lông chim thúy, vịt trời. Trong đầm còn có hơn hai mươi con cá hoa đốm, lắng tiếng nước chảy va vào đá uyển chuyển, khoan thai ngoe nguẩy từ xa vọng đến, an nhàn thư thả, ví như những kẻ lánh đời ẩn cư. Gia đồng đứng bên bục đá tay phóng đặt chiếc bình lớn, hứng lấy nước thác, nước chợt tóe vào người, lại càng lúc càng mạnh thêm, không thể lấy lại bình đựng, (chúng) mới bèn lột y trang cởi mũ mão bỏ trên tảng đá, (ta) cùng (chúng) nắm chặt tay nhau cứng khít, tranh giựt nhau hòng lấy (chiếc bình) về, vì thế mà cười một trận vỡ đê. Trên bức vách đá nằm hướng Tây Nam, có chừng vài chục con khỉ vàng, nghe thấy tiếng cười đùa huyên náo thảy đều kinh hãi hoang mang, trèo lên vách núi nắm nhành cây (mọc) ngang cứ lần lượt nối nhau mà xuống, (có) người lén ngó (xuống) (sợ hãi) mà kêu thét. Rảo mắt nhìn quanh một hồi lâu, mới đi ra đến trước cửa viện Thụy Lộc – Nay là chùa Thụy Lộc. Trời đã vào tối, rừng xanh cây biếc lá rơi đống đống, đi về phía trước, người quên lối về, chỉ thấy ánh trăng, phảng phất như bóng như hình cố nhân.

Trong đầm còn có hơn hai mươi con cá hoa đốm, lắng tiếng nước chảy va vào đá uyển chuyển, khoan thai ngoe nguẩy từ xa vọng đến, an nhàn thư thả, ví như những kẻ lánh đời ẩn cư.

Lão tiên sinh tên gọi là Nam Sơn Công vậy. (3)

(Chú thích)

(1) Đại Đức năm thứ bảy 大德七年: Đại Đức là niên hiệu của Nguyên Thành Tông Thiết Mặc Nhĩ 元成宗鐵穆耳 năm 1303.

(2) Thụy Lộc viện 瑞鹿院: Một trong những ngôi chùa thuộc núi Nhạn Đãng.

(3) Vị: Gọi là. Nam Sơn Công 南山公: Chỉ Lão tiên sinh, “Nam Sơn” là tên hiệu của ông, “Công” là tiếng tôn xưng. Trong trường hợp này vẫn chưa rõ danh tính, có lẽ là bậc trưởng bối mà Lý Hiếu Quang rất tôn kính, cho nên mới tôn xưng là “Lão tiên sinh”, có thể là chỉ người cha của y.

Nguyễn Thanh Lộc dịch

(Nguồn dịch)

https://baike.baidu.com/item/%E5%A4%A7%E9%BE%99%E6%B9%AB%E8%AE%B0

Leave a comment