DỊCH THUẬT: 戊午上高宗封事 – 胡銓 (MẬU NGỌ THƯỚNG CAO TÔNG PHONG SỰ (1) (Bản mật tấu trình với Tống Cao Tông năm Mậu Ngọ) – Hồ Thuyên)

Hồ Thuyên 胡銓

Hồ Thuyên 胡銓 (1102 – 1180), tự là Bang Hoành 邦衡, hiệu là Đam Am 澹庵, người Cát Châu, thành Lư Lăng Hương (Nay thuộc tỉnh Giang Tây, thành phố Cát An, trấn Trị Hạ, khu Thanh Nguyên). Một danh thần thời Nam Tống, một nhà văn lẫy lừng, cũng là một trong “Ngũ trung nhất tiết” 五忠一節 ở Lư Lăng, cùng với Lý Cương, Triệu Đỉnh, Lý Quang cùng xưng là “Nam Tống tứ danh thần” 南宋四名臣. Kiến Viêm năm thứ 2, Hồ Thuyên được thăng đến Tiến sĩ. Ban đầu trao ngôi phán quan quân sự ở Phủ châu, chiêu mộ Hương ĐInh, trợ giúp binh sĩ chống trả lại nước Kim. Sau bị tước mất chức Xu mật viện biên tu quan. Năm Thiệu Hưng thứ 8, Tần Cối chủ trương nghị hòa với nước Kim, Hồ Thuyên phản kháng kịch liệt, nhân đó ông mới làm bài “Mậu Ngọ thướng Cao Tông phong sự” để tỏ rõ nỗi lòng của mình, dâng sớ xin chém ba tên Tần Cối, Vương Luân, Tôn Cận, Tần Cối hận thù, bèn hạch tội Hồ Thuyên xúi giục trăm họ làm phản, đày ra Chiêu châu. Thuần Hi năm thứ 7, Hồ Thuyên qua đời, được phong tặng Thông Nghị Đại Phu, ban húy “Trung Giản” 忠簡, có trước tác “Đam Am tập” 《澹庵集》, lưu truyền muôn đời.

Tác phẩm cho thấy thái độ quyết liệt, liều chết của tác giả với tấm lòng yêu nước thiết tha và với mong muốn can gián bề trên. Lời lẽ sắc bén, luận điểm rõ ràng, ở đây, ta thấy được một tâm hồn cao thượng, lớn lao, biết lo cho dân, biết nghĩ đến vận mệnh quốc gia dân tộc, đọc tác phẩm, người đọc hiểu rõ hơn về lịch sử và tính chất lý luận của bài sớ, cùng với đó là thấu cảm tâm hồn cứng rắn, dám nói của tác giả trước tình hình nguy biến của đất nước, của nhân dân.

Nguyên văn: 紹興八年十一月日,右通直郎樞密院編修臣胡銓,謹齋沐裁書,昧死百拜,獻於皇帝陛下。

臣謹按:王倫本一狎邪小人,市井無賴,頃緣宰相無識,遂舉以使虜。專務詐誕,斯罔天聽,驟得美官,天下之人切齒唾罵。今者無故誘致虜使,以詔諭江南為名,是欲臣妾我也,是欲劉豫我也!劉豫臣事醜虜,南面稱王,自以為子孫帝王萬世不拔之業,一旦豺狼改慮,捽而縛之,父子為虜。商鑑不遠,而倫又欲陛下效之。夫天下者,祖宗之天下也,陛下所居之位,祖宗之位也。奈何以祖宗之天下為金虜之天下,以祖宗之位為金虜藩臣之位!陛下一屈膝,則祖宗廟社之靈盡污夷狄,祖宗數百年之赤子盡為左衽,朝廷宰執盡為陪臣,天下之士大夫皆當裂冠毀冕,變為胡服,異時豺狼無厭之求,安知不加我以無禮如劉豫也哉!夫三尺童子,至無識也,指犬豕而使之拜,則怫然怒;今醜虜則犬豕也,堂堂大國,相率而拜犬豕,曾童孺之所羞,而陛下忍為之邪?
倫之議乃曰:“我一屈膝,則梓宮可還,太后可複,淵聖可歸,中原可得。”嗚呼!自變故以來,主和議者,誰不以此說啖陛下哉?然而卒無一驗,則虜之情偽已可知矣。而陛下尚不覺悟,竭民膏血而不恤,忘國大仇而不報,含垢忍恥,舉天下而臣之甘心焉。就令虜決可和,盡如倫議,天下後世謂陛下何如主?況醜虜變詐百出,而倫又以奸邪濟之,則梓宮決不可還,太后決不可複,淵聖決不可歸,中原決不可得。而此膝一屈,不可複伸,國勢陵夷,不可複振,可為痛哭流涕長太息矣。

向者陛下間關海道,危如累卵,當時尚不忍北面臣敵,況今國勢稍張,諸將盡銳,士卒思奮。只如頃者敵勢陸梁,偽豫入寇,固嘗敗之於襄陽,敗之於淮上,敗之於渦口,敗之於淮陰,較之往時蹈海之危,固已萬萬。儻不得已而至於用兵,則我豈遽出虜人下哉?今無故而反臣之,欲屈萬乘之尊,下穹廬之拜,三軍之士不戰而氣已索,此魯仲連所以義不帝秦,非惜夫帝秦之虛名,惜夫天下大勢有所不可也。今內而百官,外而軍民,萬口一談,皆欲食倫之肉。謗議洶洶,陛下不聞,正恐一旦變作,禍且不測。臣竊謂不斬王倫,國之存亡未可知也。

雖然,倫不足道也,秦檜以心腹大臣而亦為之。陛下有堯、舜之資,檜不能致陛下如唐、虞,而欲導陛下為石晉。近者禮部侍郎曾開等引古誼以折之,檜乃厲聲責曰:“侍郎知故事,我獨不知!”則檜之遂非愎諫,已自可見。而乃建白,令臺諫侍臣僉議可否,是蓋畏天下議己,而令臺諫侍臣共分謗耳。有識之士,皆以為朝廷無人,籲,可惜哉!孔子曰:“微管仲,吾其被發左衽矣。”夫管仲,霸者之佐耳,尚能變左衽之區而為衣裳之會。秦檜,大國之相也,反驅衣冠之俗而為左衽之鄉。則檜也不唯陛下之罪人,實管仲之罪人矣。孫近傅會檜議,遂得參知政事。天下望治有如飢渴,而近伴食中書,漫不敢可否事。檜曰敵可議和,近亦曰可和;檜曰天子當拜,近亦曰當拜。臣嘗至政事堂,三發問而近不答,但曰“已令臺諫侍從議矣”。嗚呼!參贊大政徒取容充位如此,有如虜騎長驅,尚能折衝禦侮耶?臣竊謂秦檜、孫近亦可斬也。

臣備員樞屬,義不與檜等共戴天。區區之心,願斷三人頭,竿之藁街。然後羈留虜使,責以無禮,徐興問罪之師,則三軍之士不戰而氣自倍。不然,臣有赴東海而死爾,寧能處小朝廷求活邪!小臣狂妄,冒瀆天威,甘俟斧鉞,不勝隕越之至!

Hoàng đế Tống Cao Tông

Phiên âm: Thiệu Hưng (2) bát niên thập nhất nguyệt nhật, Hữu Thông Trực Lang Xu Mật Viện Biên Tu (3) thần Hồ Thuyên, cẩn trai mộc tài thư, muội tử bách bái, hiến ư hoàng đế bệ hạ.

Thần cẩn án: Vương Luân bổn (4) nhất hiệp tà tiểu nhân, thị tỉnh vô lại, khoảnh duyên tể tướng (5) vô thức, toại cử dĩ sử lỗ. Chuyên vụ trá đản, tư võng thiên thính, sậu đắc mỹ quan, thiên hạ chi nhân thiết xỉ thóa mạ. Kim giả vô cố dụ trí lỗ sứ, dĩ Chiêu Dụ Giang Nam vi danh (6), thị dục thần thiếp ngã dã, thị dục Lưu Dự (7) ngã dã! Lưu Dự thần sự xú lỗ, Nam diện xưng vương, tự dĩ vi tôn tử đế vương vạn thế bất bạt chi nghiệp, nhất đán sài lang cải lự, tốt nhi phược chi, phụ tử vi lỗ. Thương giám bất viễn (8), nhi Luận hựu dục bệ hạ hiệu chi. Phù thiên hạ giả, tổ tông chi thiên hạ dã, bệ hạ sở cư chi vị, tổ tông chi vị dã. Nại hà dĩ tổ tông chi thiên hạ vi Kim lỗ chi thiên hạ, dĩ tổ tông chi vị vi Kim lỗ phiên thần chi vị! Bệ hạ nhất khuất tất, tắc tổ tông miếu xã chi linh tận ô di địch, tổ tông sổ bách niên chi xích tử tận vi tả nhẫm, triều đình tể chấp tận vi bồi thần, thiên hạ chi sĩ đại phu giai đương liệt quan hủy miện, biến vi hồ phục, dị thời sài lang vô yếm chi cầu, an tri bất gia ngã dĩ vô lễ như Lưu Dự dã tai! Phù tam xích đồng tử, chí vô thức dã, chỉ khuyển thỉ nhi sử chi bái, tắc phật nhiên nộ; kim xú lỗ tắc khuyển thỉ dã, đường đường đại quốc, tương suất nhi bái khuyển thỉ, tằng đồng nhụ chi sở tu, nhi bệ hạ nhẫn vi chi da?

Luân chi nghị nãi viết: “Ngã nhất khuất tất, tắc tử cung khả hoàn, thái hậu khả phức, Uyên Thánh khả quy, Trung Nguyên khả đắc” (9). Ô hô! Tự biến cố dĩ lai, chủ hòa nghị giả, thùy bất dĩ thử thuyết đạm bệ hạ tai? Nhiên nhi tốt nhi nghiệm, tắc lỗ chi tình ngụy dĩ khả tri hỹ. Nhi bệ hạ thượng bất giác ngộ, kiệt dân cao huyết nhi bất tuất, vong quốc đại cừu nhi bất báo, hàm cấu nhẫn xỉ, cử thiên hạ nhi thần chi cam tâm yên. Tựu lệnh lỗ quyết khả hòa, tận như Luân nghị, thiên hạ hậu thế vị bệ hạ hà như chủ? Huống xú lỗ biến trá bách xuất, nhi Luân hựu dĩ gian tà tế chi, tắc tử cung quyết bất khả hoàn, thái hậu quyết bất khả phức, uyên thánh quyết bất khả quỷ, Trung Nguyên quyết bất khả đắc. Nhi thử tất nhất khuất, bất khắc phức thân, quốc thế lăng di, bất khả phức chấn, khả vi thống khốc lưu thế trường thái tức hỹ.

Hướng giả bệ hạ gián quan hải đạo, nguy như lũy noãn, đương thời thượng bất nhẫn Bắc diện thần địch, huống kim quốc thế sảo trương, chư tướng tận duệ, sĩ tốt tư phấn. Chỉ như khoảnh giả địch thế lăng lương, ngụy dự nhập khấu, cố thường bại chi ư Tương Dương (10), bại chi ư Hoài thượng (11), bại chi ư Qua khẩu (12), bại chi ư Hoài Âm (13), giác chi vãng thời đạo hải chi nguy, cố dĩ vạn vạn. Thảng bất đắc dĩ nhi chí ư dụng binh, tắc ngã khởi cự xuất lỗ nhân hạ tai? Kim vô cố nhi phản thần chi, dục khuất vạn thặng chi tôn, bất khung lư chi bái, tam quân chi sĩ bất chiến nhi khí dĩ tác, thử Lỗ Trọng Liên (14) sở dĩ nghĩa bất đế Tần, phi tích phù đế Tần chi danh hư, tích phù thiên hạ đại thế hữu sở bất khả dã. Kim nội nhi bách quan, ngoại nhi quân dân, vạn khẩu nhất đàm, giai dục thực Luân chi nhục. Báng nghị hung hung, bệ hạ bất văn, chính khủng nhất đán biến tác, họa thả vất trắc. Thần thiết vị bất trảm Vương Luân, quốc chi tồn vong vị khả tri dã.

Tuy nhiên, Luân bất túc đạo dã, Tần Cối dĩ tâm phúc đại thần nhi diệc vi chi. Bệ hạ hữu Nghiêu, Thuấn chi tư, Cối bất năng trí bệ hạ như Đường, Ngu, nhi dục đạo bệ hạ vi Thạch Tấn (15). Cận giả Lễ Bộ Thị Lang Tăng Khai (16) đẳng dẫn cổ nghị dĩ chiết chi, Cối nãi lệ thanh trách nhật: “Thị Lang tri cố sự, ngã độc bất tri!” Tắc Cối chi toại phi phức gián, dĩ tự khả kiến. Nhi nãi kiến bạch, lệnh Đài Gián Thị Thần thiêm nghị khả phủ, thị cái úy thiên hạ nghị kỉ, nhi lệnh Đài Gián Thị Thần cộng phân báng nhĩ. Hữu thức chi sĩ, giai dĩ vi triều đình vô nhân, dụ, khả tích tai! Khổng Tử viết: “Vi Quản Trọng, ngô kỳ bị phát tả nhẫm hỹ” (17). Phù Quản Trọng, bá giả (18) chi tá nhĩ, thượng năng biến tả nhẫm chi khu nhi y thường chi hội. Tần Cối, đại quốc chi tướng dã, phản khu y quán chi tục nhi nhi vi tả nhẫm chi hương. Tắc Cối dã bất duy bệ hạ chi tội, thực Quản Trọng chi tội nhân hỹ. Tôn Cận (19) phụ hội Cối nghị, toại đắc Tham Tri Chính Sự. Thiên hạ vọng trị hữu như cơ khát, nhi Cận bạn thực trung thư (20), man bất cảm khả phủ sự. Cối viết địch khả nghị hòa, cận tích viết khả tri; Cối viết thiên tử đáng bái, Cận diệc nhật đáng bái. Thần thường chí chính sự đường, tam phát vấn nhi cận bất đáp, đãn viết “dĩ lệnh Đài Gián thị tòng nghị hỹ“. Ô hô! Tham tán đại chính đồ thủ dung sung vị như thử, hữu như lỗ kị trường khu, thượng năng chiết xung ngự vũ da? Thần thiết vị Tần Cối, Tôn Cận diệc khả trảm dã.

Tần Cối 秦檜

Thần bị viên Xu thuộc, nghĩa bất dữ Cối đẳng cộng đới thiên. Khu khu chi tâm, nguyện đoạn tam nhân đầu, can chi Cảo Nhai. Nhiên hậu ki lưu lỗ sứ, trách dĩ vô lễ, từ hưng vấn tội chi sư, tắc tam quân chi sĩ bất chiến nhi khí tự bội. Bất nhiên, thần hữu phó Đông hải nhi tử (21) nhĩ, ninh năng xứ tiểu triều đình cầu hoạt da! Tiểu thần cuồng vọng, mạo độc thiên uy, cam sĩ phủ việt, bất thắng vẫn việt chi chí!

Dịch nghĩa: Thiệu Hưng năm thứ 8 tháng 11 vào một ngày, Hữu Thông Trực Lang làm ở Xu Mật Viện nhậm chức quan Biên Tu, thần là Hồ Thuyên, cẩn thận trai giới tắm gội biên thư, liều chết, trăm lạy hiến dâng lên hoàng đế bệ hạ.

Thần cẩn trọng xem xét: Vương Luân vốn là một kẻ tiểu nhân gian tà khinh mạn, trong ruộng ngoài chợ, quen nhờn thói giảo trá vô luân, vừa mới đây, nhân cơ hội tể tướng (đương triều) chẳng có (thức nhãn) hiểu biết, (hắn) bèn cử ông ta đi sứ sang nước giặc (nước Kim). (Hắn) chuyên trò gian ô, xằng càn, manh tâm lừa dối thiên tử, bất ngờ vớ được phẩm cao chức trọng, bị tất thảy người trong thiên hạ mỉa mai thóa mạ. Ngày nay lại vô duyên vô cớ dẫn dụ sứ thần nước giặc, mang cái danh “Chiêu Dụ Giang Nam” (ra mà đàm phán), lại muốn bắt ép nước ta chịu phận tôi tớ, lại muốn biến nước ta thành phường Lưu Dự. Hạng nô bộc (như) Lưu Dự phụng sự cho giặc dữ, xương vương nơi phía Nam, tự cho mình là con cháu đế vương, muôn đời sự nghiệp kiên cố. Đến một ngày nọ, lũ hùm beo (bọn nước Kim) bất ngờ thay tâm đổi ý, mang hắn ra tróc nã rồi bắt trói, cha con (bỗng chốc) trở thành tù binh. Tấm bảo kính của nhà Ân (nhà Thương) còn đó trơ trơ (chẳng hề xa), thế mà Vương Luân lại muốn bệ hạ dẫm vào cái vết xe đổ ấy. Ôi thiên hạ, là thiên hạ của người xưa, ngôi cửu trùng mà bệ hạ đương giữ, là ngôi cửu trùng của người xưa vậy. Cớ sao (bệ hạ) lại cho thiên hạ của người xưa là thiên hạ của bọn giặc Kim, cho ngôi cửu trùng của người xưa là ngôi cửu trùng của phiên thần nước Kim. Bệ hạ hễ đầu hàng (khom lưng uốn gối), (thì ắt) quỷ thần (trú trì) xã tắc tông miếu tất thảy bị điếm nhục, ô miệt (bôi nhọ), dân đen (những người được hưởng sự dưỡng dục) của tổ tiên vài trăm năm đây rồi sẽ phải mặc áo trái vạt, quần thần chấp chính trong triều tất thảy trở thành lũ bồi thần (bầy tôi của kẻ bầy tôi), sĩ-đại-phu trong thiên hạ thảy đều bị xé mão quan, phá cổn miện, thay bằng hồ phục (triều phục của nhà Kim), (rồi) đến khi cái tham cầu của bọn sài lang ấy chẳng thể kìm chế được nữa, làm sao biết đặng chúng sẽ không dự liệt nước ta vào phường vô lễ như Lưu Dự đây! Ôi đám tiểu nhi, thực bọn ngu muội, chỉ đám chó lợn, bảo chúng bái lạy, chúng còn uất tức, nay đám giặc dữ, là đám chó má, là lũ lợn lòi, đường đường là một nước lớn, lại nối nhau từng lượt mà vái lạy đám chó lợn, đến trẻ con còn biết xấu hổ, (chẳng nhẽ) bệ hạ lại nhẫn tâm làm thế sao?

Vương Luân có thương lượng rằng: “Triều Tống ta nếu đầu hàng (quân Kim), thì cỗ tử cung (áo quan của nhà vua) có thể được trở về, thái hậu có thể lại được hồi cung, Uyên Thánh (chỉ Tống Khâm Tông Triệu Hoàn) có thể được quy triều, Trung Nguyên có thể có lại được“. Than ôi! Từ hồi có biến cố đến nay, đức vua chủ trương hòa nghị, (vậy đã) có ai không mang chuyện ấy ra mà cám dỗ bệ hạ chưa? Tuy sĩ tốt không có lấy nỗi một và kinh nghiệm, song tình thế quân giặc dẫu có giả trá thế nào vẫn có thể biết được. Ấy vậy mà bệ hạ vẫn chưa hề giác ngộ, (đã) vắt kiệt máu huyết của chúng dân lại còn không chẩn cấp cho kẻ nghèo túng, cái thù mất nước (trơ trơ như thế) ấy vậy mà không báo trả, ngậm tủi chịu nhục, gánh vác non sông mà cam lòng làm bề tôi cho quân giặc. Dù rằng có thể lệnh giặc quyết chí cầu hòa (và) tất thảy đều y như lời thương lượng của Vương Luân, (nhưng rồi) người đời sau (trong thiên hạ) sẽ gọi bệ hạ (là vị quân chủ) như thế nào? Huống chi giặc dữ là lũ giảo trá, đa đoan, thế mà thằng Vương Luân lại mang nỗi gian tà xảo quyết lọ tế trợ triều Kim, thì (tất) cỗ tử cung ắt không được trở về, thái hậu ắt không được hồi cung, uyên thánh ắt không được về triều, Trung Nguyên ắt không thể lấy lại được. Như vậy (dẫu) khom lưng uốn gối, (cũng) không thể duỗi thân thẳng thóm được nữa (rửa hận), thế nước (chẳng những) suy vi, (mà còn) chẳng thể phục hưng được nữa, có thể khiến cho người ta phải thống khổ than khóc, than vắn thở dài.
Trước đây từng bệ hạ đã từng qua vùng nan lộ, đến miền hải khẩu, nguy như trứng xếp chồng, đương khi ấy vẫn chưa sẵn lòng (chịu) đối địch nơi phía Bắc, huống chi giặc Kim, thế đà dần mạnh, chư tướng tinh nhuệ, sĩ tốt khí hăng. Chỉ (cần) so với khi trước (lúc vừa mới thanh uy), thế giặc đã ngạo mạn, ương ngạnh, chính quyền (tiếm đoạt) của Lưu Dự (cũng) đà nhập hội với phường địch khấu, vốn từng bại trận, tại vùng Tương Dương, ở trên sông Hoài, ngay miền Qua khẩu, đã từng thất thủ, tại miền chiến địa thành cổ Hoài Âm, giữa lúc giao thời, nguy khốn (bao vây) trên miền hồ hải, đã có vạn vạn trận thắng lẫy lừng. Thảng hoặc bất đắc dĩ mà phải động binh, ta há lại bị đám giặc giã hạ bệ (yếu hơn quân giặc) hay sao? Nay không duyên chẳng cớ mà trở về thần phục người Kim, hầu muốn khuất phục sự tôn nghiêm của hoàng thượng, khom lưng trước triều giặc Kim mà vái lạy, sĩ tốt ba quân tuy chưa chiến đấu mà chí khí đã kiệt tận, đến Lỗ Trọng Liên còn biết lấy cái nghĩa mà không tôn đế triều Tần, không tiếc rẻ vì cái hư danh (của việc tôn nhà Tần làm đế) kia, chỉ tiếc vì thanh thế của quốc gia không thể có được nữa. Ngày nay trong triều hãy còn bách quan, ngoài triều hãy còn quân dân, tuy dị khẩu (khác nhau) nhưng đồng thanh (cùng chung tiếng nói), đều (cùng) muốn ăn thịt Vương Luân. (Trong ngoài) Lời dị nghị phỉ báng ào ào nhao nhao, (thế mà) bệ hạ chẳng thèm nghe, (thần) chỉ sợ một ngày biến cố phát sinh, họa khốn chẳng lường được. Thần trộm nghĩ, (nếu) không trảm thủ Vương Luân, (thì) sự tồn vong của đất nước khó bề định liệu được vậy.

Tuy nhiên, Luân không đáng để bàn đến (ở đây), (nhớ xưa) Tần Cối (cũng đã) mang tâm phúc của một vị đại thần ra mà làm việc ấy rồi vậy. Hoàng thượng có trong mình tư chất của vua Nghiêu, của vua Thuấn, Cối (suy cho cùng) chẳng thể khiến bệ hạ được như Nghiêu, Thuấn mà muốn dẫn dắt bệ hạ làm quân Thạch Tấn. Bọn quan Lễ bộ thị lang Tăng Khai lúc ấy đã dẫn đạo dắt lý của người xưa ra mà đạp đổ, Cối bèn thị uy thanh thế, trách rằng: “Thị lang biết chuyện cũ, chỉ có ta là không biết thôi“. Có nghĩa, Tần Cối ương ngạnh cố chấp, đeo đuổi sai lầm, tự cho mình có thể minh tỏ vạn sự. Thế nhưng khi đưa ra tư kiến, lại lệnh cho Đài – gián (Đài ngự sử và quan Gián nghị (làm chuyện can gian)) – thị – thần (quan lại trong triều) tất thảy có thể cầu hòa được không, (tức) đại để y cũng sợ những lời bàn tán xôn xao của thiên hạ về mình, thế rồi mệnh cho Đài – gián – thị – thần cùng lóng tai mà nghe dư luận chỉ trích (chia tội sẻ lỗi). Có kẻ sĩ học thức, đều cho rằng triều đình không có nhân tài, than ôi, đáng tiếc thay! Khổng Tử nói rằng: “Vi quản trọng, ngô kì bị phát tả nhẫm hỹ” (Nếu không có ông Quản Trọng, ta tất bị búi tóc mặc áo trái vạt vậy (như người Di, người Địch). Ôi Quản Trọng, (cũng chỉ là) người phó tá cho bậc bá chủ (Tề Hoàn Công) mà thôi, mà còn có thể biến vùng đất của bọn tả nhẫm (của Di, Địch) trở thành liên minh các nước chư hầu. Tần Cối, là tể tướng của một nước lớn, thế mà lại phản trắc với văn minh người xưa (triều phục nhà Hán) và biến cải (đất đai người xưa) thành quê hương của lũ man di, lũ mọi rợ. Cũng có nghĩa Tần Cối không chỉ là tội nhân của bệ hạ mà còn là tội đồ của Quản Trọng nữa vậy. Tôn Cận (vì) đón đặng ý hướng nghị hòa từ Tần Cối, nên (bèn) có được chức Tham tri chính sự. Người trong thiên hạ trông mong cơn thái bình, sự thịnh trị như đói, như khát, Cận thân làm tể tướng mà rảnh rỗi vô sự (trong thư phòng ngồi tiếp ăn uống), hoàn toàn không dám (nói câu) tán thành hay phản đối. Cối thì cho rằng giặc giã, (ta) có thể cầu hòa, Cận cũng như thế; Cối cho rằng bậc thiên tử nên khom lưng uốn gối, Cận cũng như thế. Thần đã từng đến gian chính sự, ba lần hỏi thăm song Cận không đáp lần nào cả, mà chỉ nói rằng “đã lệnh cho Đài – gián – thị – thần theo lối cầu hòa rồi vậy“. Than ôi! Những người tham dự vào đại cuộc quốc gia không mang danh vị, giản dị như thế, nếu như quân giặc có đuổi chạy dài, vẫn còn có thể chống lại quân giặc mà giành được thắng lợi, có thể ngăn che được cơn lấn áp được hay không? Thần trộm nghĩ Tần Cối (đáng trảm), thì Tôn Cận cũng đáng bị trảm như thế.

Thần được nhậm chức Xu Mật Viện Biên Tu, thề không đội trời chung với bọn Tần Cối. Tấm lòng nhỏ bé của hạ thần, mong được chặt đầu ba tên vô lại, treo ở Cảo Nhai. Sau này có dàm trói được sứ giặc, khiển trách (vì) sự vô lễ, hoãn việc xuất binh, hỏi người có tội, ắt ba quân tướng sĩ chưa xông trận mà chí khí đã hăng lên gấp bội. Nếu không, thần chỉ có nước chạy tới bể Đông mà trầm mình chết quách đi thôi, sao có thể ở trong một triều đình bị lệ thuộc mà cầu mong được sống cho đặng! Tiểu thần cuồng vọng, ngu tối, phiền nhiễu thiên uy, cam đợi hình phạt, (đến mức) sợ hãi khôn xiết.

(Chú thích)

(1) Phong sự 封事: Là bản tấu chương được phong kín, bí mật. Quần thần thời xưa khi dâng bản tấu sớ, nếu như sự việc cơ mật, phòng khi tiết lộ, sẽ lấy một cái túi vải có màu đen bọc thư lại. Còn một nghĩa khác chỉ việc tế tự trong triều đình, còn có chữ khác là Phong thiện 封禪, Phong 封 là tế trời, Thiện 禪 là tế đất, ngày xưa thiên tử đi tuần thú, phong núi Thái Sơn mà tế trời, quét núi nhỏ mà tế núi sông.

(2) Thiệu Hưng 紹興: Niên hiệu của hoàng đế Nam Tống Triệu Cấu, từ năm 1131 đến năm 1162.

(3) Hữu Thông Trực Lang 右通直郎: Là chức quan, phẩm thứ sáu. Xu mật viện: Tên quan thự (Nhà ở của người làm việc triều đình). Xu mật viện đời Tống chủ yếu quản lí việc quân cơ mật và các việc liên quan tới biên phòng, cùng với Trung thư tỉnh gọi là “Nhị phủ” 二府, đều là cơ quan quốc vụ cấp cao nhất ở trong triều đình. Biên tu: Tên chức quan, nắm việc sửa đổi quốc sử, thực lục. Thiệu Hưng năm thứ năm, Hồ Thuyên nhậm chức quan Biên Tu ở Xu Mật Viện.

(4) Vương Luân 王倫: Tự là Chính Đạo, người ở huyện Sân (hoặc Sằn) (còn gọi là Hữu Sân/ Hữu Sằn, nay ở tỉnh Sơn Đông). Năm 1137, sau khi thái hậu Ninh Đức và Tống Huy Tông chết ở nước Kim, Vương Luân nhậm chức Nghênh Phụng Tể Cung Sứ, đi sứ sang nước Kim, đồng ý hủy lệnh cầu hòa. Năm 1138, Vương Luân lại đi sứ sang nước Kim, không lâu sau thì cùng sứ thần nước Kim về Lâm An. Thiệu Hưng năm thứ 9, Vương Luân lại đi sứ sang nước Kim thì bị bắt, 6 năm sau quyết không chịu hàng Kim, tự nói rằng: “Thần nay nhận mệnh mà bị bắt lại, vì thứ hư danh này nên muốn gột sạch, thần cam lấy cái chết vì đã làm nhục mệnh nước vậy” (臣今將命被留,欲污以偽職,臣敢愛一死以辱命). Sau bị vua nước Kim bóp cổ chết. Ở trong “Tống Sử” thì lại giễu cợt y rất nhiều, Triệu Dực trong “Chấp nhị sử trát ký” 廿二史札記 có nói kĩ về Vương Luân, có thể tham khảo được.

(5) Tể tướng: Chỉ Tần Cối, đương khi ấy nhậm chức Tể Tướng, cùng với người Kim cấu hòa. Cuối năm thời Bắc Tông, nhậm chức Ngự Sử Trung Thừa, cùng với Tống Huy Tông, Tống Khâm Tông bị người Kim bắt trói. Sau khi được trả về Nam, lại nhậm thêm chức tể tướng dưới triều Nam Tống, chấp chính được 9 năm. Từng vì án “Mạc tu hữu” hại chết Nhạc Phi mà danh ô muôn đời lưu lại.

(6) Câu này có nghĩa: Thiệu Hưng năm thứ 8 vua nước Kim phái Tiêu Triết, Trương Thông Cổ làm Giang Nam chiêu dụ sứ, cùng với Vương Luân đi sứ nước Tống, mang danh “Chiêu Dụ” tức đã coi nhà Tống là một nước bị lệ thuộc. Vì các vị quân chủ thời xưa khi thông cáo với quần thần hoặc bách tính thì mới gọi là “chiêu dụ”. Căn cứ vào “Vương Luân truyện” trong Tống sử thì: “Vua Kim uổng công thiết yến ba ngày, sai Kiểm thư tuyên hội viện sự Tiêu Triết, Tả ti lang trung Trương Thông Cổ làm Giang Nam chiêu dụ sứ, cùng dắt Luân theo. Triều đình cho rằng sứ thần nhà Kim ngạo mạn, phóng túng, nên cãi cọ trông thật huyên náo, đa phần quy tội Luân (cõng rắn cắn gà nhà)”.

(7) Lưu Dự 劉豫: Tự là Ngạn Du 彥遊, người Phụ Thành, nay thuộc nút giao sông ở Hà Bắc. Là phản thần thời Nam Tống, là chính quyền bù nhìn cho nhà Kim bị xưng là Ngụy Tề hoàng đế. Khi quân Kim xuống phía Nam thì không lâu sau đi đầu hàng quân Kim. Năm 1130 (Kiến Viêm năm thứ 4), được người Kim xưng là Đại Tề hoàng đế, đóng đô ở Đại Danh (Nay ở Hà Bắc), sau chuyển sang Biện Kinh (Nay ở huyện Khai Phong tỉnh Hà Nam). Thống trị Hà Nam, đất Xiểm Tây, phối hợp với quân Kim mà tấn công nhà Tống. Năm 1137, bị phế truất, hai cha con đều bị giặc bắt, sau bị chuyển đi sống ở Lâm Hoàng (Nay ở trong Mông Cổ, gần Ba Lâm Tả Kỳ) sau rồi chết ở đó.

(8) Thương giám bất viễn 商鑑不遠: Tức Ân giám bất viễn (Gương nhà Ân không xa), người Tống vì tránh phạm húy cha của Tống Thái Tổ là Triệu Hoằng Ân, nên thay Ân thành Thương. Lấy ý từ Đại Nhã trong Kinh Thi, bài Đãng: “Ân giám bất viễn, tại Hạ hậu chi thế” (殷鑑不遠,在夏后之世 – Cái gương của nhà Ân không xa, ở tại đời vua nhà Hạ đó). Sau phiếm chỉ những chuyện làm răn dạy cho người đời sau. Trong ngữ cảnh này để chỉ bài học: Lưu Dự xưng thần với nhà Kim rốt cuộc lại bị nhà Kim thù ghét giết chết.

(9) Câu này ý chỉ: Triệu Cát vào thời Thiệu Hưng năm thứ 5 chết ở nước Kim. Thái hậu, chỉ mẹ đẻ của Cao Tông Vi Hiền Phi, cùng với Huy Tông bị bắt ở nước Kim. Uyên Thánh, tức chỉ Tống Khâm Tông Triệu Hoàn, Uyên Thánh là tôn hiệu. Tống Triệu Đỉnh trong “Kiến Viêm bút lục” có viết: “Đầu năm Tĩnh Khang, Trọng Sư Đạo bước vào Xu phủ, Uyên Thánh hỏi rằng: “Lúc còn làm quan nhỏ, không thể có người có tri kiến đúng không?”

(10) Bại ở Tương Dương 敗之於襄陽: Chỉ năm 1134, Nhạc Phi truy đánh đại tướng của Lưu Dự là Lý Thành bắt quy phục ở Tương Dương. Ở trong “Nhạc Phi truyện” của Tống Sử.

(11) Bại ở Hoài thượng 敗之於淮上: Chỉ năm Thiệu Hưng thứ 4 Hàn Thế Trung truy kích đại quân của nhà Kim nên bên bờ sông Hoài. Có thể thấy trong “Hàn Thế Trung truyện” của Tống Sử.

(12) Bại ở Qua khẩu 敗之於渦口: Chỉ Thiệu Hưng năm thứ 6 Dương Nghi Trung (còn có tên là Tồn Trung), Trương Tông Nhan đánh bại ba vạn quân của Lưu Dự. Có thể thấy trong “Dương Tồn Trung truyện” của Tống sử. Qua khẩu là cửa khẩu nơi nước sông Qua nhập vào sông Hoài, thuộc tỉnh An Huy, phía Đông Bắc huyện Hoài Viễn.

(13) Bại ở Hoài Âm 敗之於淮陰: Thiệu Hưng năm thứ tư, “Hoàng đế thân chinh giành đại thắng ở Hoài Âm“, trong Tống sử, Chương Nghị truyện.

(14) Lỗ Trọng Liên 魯仲連: Là một cao sĩ nước Tề thời kỳ Chiến Quốc. Rất giỏi trong việc vạch ra chiến lược, thường đi chu du sang các nước, nhằm giải quyết mâu thuẫn. Căn cứ vào “Chiến Quốc sách”, chương Triệu sách III có viết: “Triệu Lý Vương năm thứ 9 (Năm 257 TCN), quân Tần vây khốn kinh đô Hàm Đan của nước Triệu. Ngụy vương phái sứ thần khuyên Triệu vương tôn tần lên làm đế, Triệu vương do dự không quyết. Lỗ Trọng Liên hết sức phân trần cái hại khi tôn Tần làm đế, thuyết phục hai nước Triệu, Ngụy liên hiệp với nhau mà kháng Tần. Hai nước đồng tình với chủ trương đó của Lỗ Trọng Liên, nước Tần vì thế mà phải thu quân“. (趙孝王九年(前257),秦軍圍困趙國國都邯鄲。魏王派使臣勸趙王尊秦為帝,趙王猶豫不決。魯仲連力陳以秦為帝之害,說服趙、魏兩國聯合抗秦。兩國接受其主張,秦軍以此撤軍)

(15) Thạch Tấn 石晉: Chính quyền thời Hậu Tấn đời Ngũ Đại, do Thạch Kính Đường thiết lập. Thạch Kính Đường câu dẫn quân của Khiết Đan diệt trừ đời Đường, cắt 16 châu của Yên, Vân giao cho Khiết Đan, nhận lấy sách phong, quốc hiệu là Tấn, tôn xưng vua Khiết Đan làm Phụ hoàng đế (vua cha), tự xưng là Nhi hoàng đế (vua con).

(16) Lễ bộ thị lang: Phó trưởng quan nắm giữ cơ cấu các việc như quản lí lễ nhạc, tế tự, giáo dục, khoa cử. Tăng Khai 曾開: Tự là Thiên Du 天遊, anh của Tăng Cơ. Ông từng đương đầu phản đối tư tưởng nghị hòa của Tần Cối, trong Tống sử, chương Tần Cơ truyện có viết: “Nhà vua đương lúc binh cơ lớn mạnh, nắm giữ đất nước, là bậc tôn chủ đương che chở cho dân, cớ sao lại tự hạ thấp làm nhục bản thân mình đến thế”. Vì việc ấy đã trêu tức Tần Cối, nên sau bị biếm ra châu Huy.

(17) Câu này có xuất xứ từ trong Luận Ngữ 論語, chương Hiến Vấn 憲問, nhằm khẳng định công trạng lịch sử của Quản Trọng. Quản Trọng 管仲, tên là Di Ngô 夷吾, tự là Trọng 仲, là một chính trị gia nổi tiếng nước Tề vào thời Xuân Thu, được xưng là “Xuân Thu đệ nhất tướng” 春秋弟一相, phò trợ Tề Hoàn Công trở thành vị bá chủ đệ nhất thời kỳ Xuân Thu.

(18) Tề Hoàn Công (chữ Hán: 齊桓公; 715 TCN – 7 tháng 10, 643 TCN), tên thật là Khương Tiểu Bạch (姜小白), là vị quân chủ thứ 16 của nước Tề – chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Tề Hoàn công là vị quân chủ chư hầu xưng bá chủ đầu tiên thời Xuân Thu. Ông thường được xếp vào hàng đầu tiên của danh sách Ngũ bá. Năm 679 TCN, ông triệu tập các nước chư hầu để hội minh, trở thành vị Bá chủ đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa thời Tiên Tần. Khi đó Hoa Hạ chư hầu bị áp chế bởi các chư hầu, Quản Trọng đã đề xuất Tôn vương Nhương di (尊王攘夷), Bắc kích Sơn Nhung, Nam phạt nước Sở, do đó Tề Hoàn công chân chính trở thành Trung Nguyên bá chủ, được Thiên tử nhà Chu phong thưởng và làm lễ chính thức.

(19) Tôn Cận 孫近: Người Vô Tích, thời Nam Tống, xuất thân Tiến sĩ, làm quan đến chức Hàn Lâm Viện học sĩ. Năm 1138, tán trợ chủ trương nghị hòa của Tần Cối, trừ bỏ chức Tham tri chính sự, lại muốn chiếm lấy chức Đồng tri xu mật viện, trước mặt quân Kim thì khom lưng uốn gối.

(20) Bạn thực trung thư 伴食中書: Chỉ những kẻ nhậm chức giữ vị mà không làm gì cả. Trong hoàng cung của triều Tống thiết đặt riêng một khu quan thự, gọi là “Chính sự đường” là nơi tể tướng thảo luận việc công, Tôn Cận thân làm phó tể tướng, mà lại tán đồng với Tần Cối, không có chủ trương gì, cho nên gọi là “Bạn thực trung thư”. Xuất xứ từ trong Cựu Đường thư 舊唐書, chương Lư Hoài Thận truyện 盧懐慎傳: “Hoài Thận cùng với Diêu Sùng nắm giữ Xu mật, Hoài Thận tự cho mình yếu kém chẳng bằng Sùng, mọi việc đều đùn đẩy cho ông ta làm, nên bị người đời gọi là “Bạn thực trung thư“”. Thời nhà Đường, sau khi việc họp hoàn tất, tể tướng sẽ dẫn quan lại tập trung ở thượng thư tỉnh đô đường mà dùng bữa, sau để chỉ người giữ ngôi cao chức trọng mà vô công rồi nghề, chỉ biết ăn chơi.

(21) Phó Đông hải nhi tử: Là câu nói của Lỗ Trọng Liên đời Chiến Quốc mà thư tịch thường dùng, chỉ thái độ kiên quyết phản đối chủ trương nghị hòa. Lỗ Trọng Liên từng nói: “Lũ ấy là một lũ phóng túng, vô lại mà lại xưng đế, làm vua, nếu chúng nó qua mà thống trị thiên hạ, thì Liên này chỉ có nước nhảy xuống biển Đông mà chết thôi, tôi không thể chịu được cảnh làm dân cho lũ ấy đâu”. (彼則肆然而為帝,過而遂正於天下,則連有赴東海而死矣,吾不忍為之民也).

Nguyễn Thanh Lộc dịch

(Nguồn dịch)

https://baike.baidu.com/item/%E6%88%8A%E5%8D%88%E4%B8%8A%E9%AB%98%E5%AE%97%E5%B0%81%E4%BA%8B

Leave a comment