DỊCH THUẬT: 題李仲賓野竹圖 Đề Lý Trọng Tấn dã trúc đồ (趙孟頫) (Đề bức tranh Dã Trúc (Trúc hoang) của Lý Trọng Tấn – Triệu Mạnh Phủ)

Triệu Mạnh Phủ (1254 – 1322), tên chữ Tử Ngang (子昂); bút hiệu Tùng Tuyết (松雪), Âu Ba (鷗波) và Thủy Tinh Cung đạo nhân (水精宫道人), là một hậu duệ thuộc dòng dõi vua Huy Tông nhà Tống và đồng thời là một học giả, họa sĩ, nhà thư pháp nổi tiếng Trung Quốc thời nhà Nguyên. Lý Trọng Tấn là đồng hữu của Triệu Mạnh Phủ, là một danh họa đời nhà Nguyên, tên là Khản 衎, Trọng Tấn là tên tự, hiệu là Tức Trai Đạo Nhân 息齋道人, người  Kế Khâu, nay thuộc Bắc Kinh. Hồi nhỏ bần tùng, nhờ tài nghệ đức hạnh mà được phong đến chức Quang Lộc đại phu 光祿大夫. Không những thế còn là một người sành về trúc, có trước tác “Trúc phổ tường lục”《竹譜詳錄》, trong “Trúc Thái Phổ” có viết: “若夫態度,則又非一致,要辨老、嫩、榮、枯、風、雨、明、晦,一一樣態。如風有疾慢,雨有乍久,老有年數,嫩有次序。根、幹、筍、葉,各有時候。” (Nhược phù thái độ, tắc hựu phi nhất trí, yếu biệt lão, nộn, vinh, khô, phong, vũ, minh, hối… dạng thái. Như phong hữu tật mạn, vũ hữu sạ cửu, lão hữu niên sổ, lãn hữu thứ tự. Căn, cán, duẩn, diệp, các hữu thời hậu – Như phàm về thái độ, tất lại không có sự thống nhất, phải phân biệt các chữ “lão” (già), “nộn” (mới nhú), “vinh” (xum xuê), “khô” (héo úa), các trạng thái khi “phong” (gió), “vũ” (mưa), “minh” (sáng), “hối” (tối). Ví như gió có tật chậm, mưa có lúc lâu, già có vài năm, mới nhú thì có thứ tự. Gốc, thân, măng tre, cành lá, mỗi thứ đều có thời gian của nó). Bài đề tự này là do Triệu Mạnh Phủ viết cho bức họa Dã trúc đồ (Trúc mọc hoang) của Lý Trọng Tấn.

Triệu Mạnh Phủ (1254 – 1322), tên chữ Tử Ngang (子昂); bút hiệu Tùng Tuyết (松雪), Âu Ba (鷗波) và Thủy Tinh Cung đạo nhân (水精宫道人), là một hậu duệ thuộc dòng dõi vua Huy Tông nhà Tống và đồng thời là một học giả, họa sĩ, nhà thư pháp nổi tiếng Trung Quốc thời nhà Nguyên.

Nguyên văn: 吾友李仲賓為此君 (1) 寫真,冥搜極討,蓋欲盡得竹之情狀。二百年來,以畫竹稱者,皆未必能用意精深如仲賓也。此野竹圖,尤詭怪奇崛,窮竹之變,枝葉繁而不亂,可謂毫髮無遺恨矣。然觀其所題語,則若悲此竹之託根不得其地,故有屈抑盤躄之嘆。夫犧尊青黃 (2),木之災也。擁腫拳曲,乃不夭於斧斤。由是觀之,安知其非福邪? 因賦小詩以寄意云。

無心上霄漢,混跡向蒿蓬。

偃蹇高人意,蕭疏曠士風。

Phiên âm: Ngô hữu Lý Trọng Tấn vị thử quân tả chân,  yến sưu cực thảo, cái dục tận đắc trúc chi tình trạng. Nhị bách niên lai, dĩ họa trúc xưng giả, giai vị tất năng ý tinh thâm như Trọng Tấn dã. Thử dã trúc đồ, vưu quỷ quái kỳ quật, cùng trúc chi biến, chi diệp phồn nhi bất loạn, khả vị hào phát vô di hận hỹ. Nhiên quan kỳ sở đề ngữ, tắc nhược bi thử trúc chi thác căn, bất đắc kỳ địa, cố hữu khuất ức bàn tích chi thán. Phù hi tôn thanh hoàng, mộc chi tai dã. Ủng thũng quyền khúc, nãi bất yểu ư phủ cân. Do thị quan chi, an tri kỳ phi phúc da? Nhân phú tiểu thi dĩ kí ý vân.

Yển kiển cao nhân ý, Tiêu sơ khoáng thổ phong.

Vô tâm thượng tiêu hán, hỗn tích hướng hao bồng.”

Ví như gió có tật chậm, mưa có lúc lâu, già có vài năm, mới nhú thì có thứ tự. Gốc, thân, măng tre, cành lá, mỗi thứ đều có thời gian của nó

Dịch nghĩa: Lý Trọng Tấn bạn ta là một nhà thư họa ưa vẽ trúc, (y) dốc lòng tìm kiếm, hết mình dò hỏi, đại để muốn biết tận đặng hình dạng của trúc (hầu họa). Hai trăm năm tới đây, người được xưng tán nhờ tài vẽ trúc, chưa thấy ai có thể (đủ sức) mưu tính một cách tinh thâm như Trọng Tấn. Bức tranh họa trúc hoang nầy, (với ta) trông thật quỉ dị kì khôi, rừng trúc hẻo lánh trông như đương biến hóa, ủy uyển, cành lá xum xuê thế mà không tạp loạn, có thể gọi là “chân tơ kẽ tóc không vương vấn nỗi uất hận” vậy. Tuy nhiên quan sát kĩ (mới thấy) vấn đề cần giãi tỏ, (có vẻ) rừng trúc như đương buồn bã (vì) không được ủy thân (cắm rễ) nơi đất mẹ, cho nên (tự trong tranh) như hàm chứa một nỗi than thở kìm nén bao trùm. Ôi cái chén rượu sơn xanh sơn vàng, đó là cái họa của cây cỏ vậy. (Cây cối) Thô kệch quặn quẹo, thực ra chẳng phải do búa tạ mà chết yểu đâu. Mà thực do khi nhìn nó, sao (ta) biết được ấy chẳng phải là phúc hạnh? Nhân đó (ta) làm một bài tiểu phú đặng gửi lại ý nghĩ của mình, rằng:

Cao nhân ưa vẻ chây lười,
Dạ thư lòng khoái đón vời gió sang.
Vô tâm rảo áng mây ngàn,
Dấu chân gian trá giãi quanh cỏ đồng“.

Bức tranh họa trúc hoang nầy, (với ta) trông thật quỉ dị kì khôi, rừng trúc hẻo lánh trông như đương biến hóa, ủy uyển, cành lá xum xuê thế mà không tạp loạn, có thể gọi là “chân tơ kẽ tóc không vương vấn nỗi uất hận” vậy.

Chú thích:

(1) Thử quân: Chỉ cây trúc, là điển tích có xuất xứ từ trong Tấn Thư, chương Vương Huy chi truyện: “Vương Huy trồng trúc ở trong nhà, có người hỏi về chuyện đó, ông ta nói rằng: “Có thể được một ngày không làm vua chăng?” Sau dùng để chỉ những vật mà người ta thích. Ở đây để chỉ sự thích trúc của Lý Trọng Tấn.

(2) Hi tôn thanh hoàng: Chén rượu/ thờ sơn xanh sơn vàng, lấy ý từ trong chương Thiên địa, sách Trang Tử: “Bách niên chi mộc, phá vi hi tôn, thanh hoàng nhi văn cgi, kỳ đoạn tại cấu trung. Thử hi tôn ư cấu trung chi đoạn, tắc mỹ ố hữu gian hỹ, kỳ ư thất tính nhất dã” (百年之木﹐破為犧尊﹐青黃而文之﹐其斷在溝中。比犠尊於溝中之斷﹐則美惡有間矣﹐其於失性一也。- Cây trăm năm cưa ra làm chén thờ sơn xanh sơn vàng, còn gỗ dư đem ném xuống hào. So sánh những chén thờ và gỗ dưới hào ấy thì đẹp xấu khác nhau xa nhưng đều là mất bản tính cả.)

Nguyễn Thanh Lộc dịch

Nguồn: https://www.kekeshici.com/shicijianshang/lidaitihua/56041.html

Leave a comment