Trương Dụ Chiêu (1823 – 1894) tự là Liêm Khanh, người Vũ Xương Hồ Bắc, là một trong những tác gia quan trọng nổi tiếng của phái Đồng Thành 桐城. Ông có tư tưởng yêu nước mạnh mẽ, mong muốn cải thiện và đổi mới đất nước. Vì thế ông kết giao với nhiều nhà yêu nước với khát vọng quốc thái dân an. Có tập “Trương Liêm Khanh tiên sinh văn tập” nổi tiếng. Bài ký này được ông sáng tác vào năm thứ hai niên hiệu Quang Tự (1876) đời nhà Thanh, nhân một chuyến đi lên núi Ngu Sơn cùng chư vị bằng hữu. Bài ký đã miêu tả một cách rõ nét, sống động quang cảnh núi non hùng vĩ, bằng bút pháp ẩn dụ, tác giả đã đưa người đọc đến một thế giới kì ảo, mở mang tầm mắt trước những thắng cảnh danh lam, gợi tình yêu với thiên nhiên và ca ngợi lối sống ẩn dật, tự do, tự tại.

Nguyên văn: 十八日,與黎蓴齋遊狼山 (1),坐萃景樓望虞山,樂之。二十一日,買舟渡江,明晨及常熟。時趙易州惠甫適解官歸,居於常熟,遂偕往遊焉。
虞山尻尾東入熟城 (2),出城迤西,綿二十里,四面皆廣野,山亙其中。其最勝為拂水岩 (3),巨石高數十尺,層積駢疊,若累芝菌,若重巨盤為台,色蒼碧丹赭斑駁,晃耀溢目。有二石中分,曰劍門,騞擘屹立,詭異殆不可狀。踞岩俯視,平疇廣衍數万頃8。澄湖 (4) 奔溪,縱橫盪潏其間,繡畫天施。南望毗陵、震澤 (5),連山青以相屬,厥高鑱雲,雨氣日光參錯出諸峰上。水陰上薄,盪摩闔開,變滅無瞬息定。其外蒼煙渺靄圍繚,光色純天,決眥窮睇,神與極馳。岩之麓為拂水山莊舊址,錢牧齋 (6) 之所嘗居也。嗟夫!以茲丘之勝,錢氏惘不能藏於此終焉,餘與易州乃樂而不能去云。岩阿為維摩寺,經亂,泰半毀矣。
出寺西行少折,踰嶺而北,雲海豁工,杳若天外,而狼山忽焉在前,今指謂易州:“一昔遊其上也。”又西下,為三峰寺,所在室宇,每每可憩息。臨望多古樹,有羅漢松一株,剝脫拳禿,類數百年物。寺僧俱酒果筍而餉餘兩人已,日昃矣。循山北過安福寺,唐人常建詩所謂破山寺者也 (7)。幽邃稱建詩語。寺多木樨花,自寺以往,芳馥載塗。
返自常熟北門,至言子、仲雍 (8) 墓,其上為辛峰亭。日已夕,山徑危仄不可上,期以翼日往。風雨,復不果。二十四日遂放舟趣吳門。行數十里,虞山猶蜿蜒在蓬戶,望之了然,令人欲反棹復至焉。
Phiên âm: Thập bát nhật, dữ Lê Thuần Trai du Lang Sơn, tọa Tụy Cảnh lâu vọng Ngu Sơn, lạc chi. Nhị thập nhất nhật, mãi chu độ giang, minh thần cập Thường Thục. Thời Triệu Dịch Châu Huệ phủ thích giải quan quy, cư ư Thường Thục, toại giai vãng du yên.

Ngu sơn khào vĩ Đông nhập Thục thành, xuất thành dĩ Tây, miên nhị thập lí, tứ diện giai khoáng dã, sơn cắng kỳ trung. Kỳ tối thắng vi Phất Thủy nham, cự thạch cao sổ thập xích, tằng tích biền điệp, nhược lũy chi khuẩn, nhược trọng cự bàn vi đài, sắc thương bích đan giả ban bác, hoảng diệu dật mục. Hữu nhị thạch trung phân, viết Kiếm Môn, hoạch phách ngật lập, quỷ dị đãi bất khả trạng. Cứ nham phủ thị, bình trù quảng diễn sổ vạn khoảnh. Trừng hồ bôn khê, tung hoành đãng quất kỳ gian, tú họa thiên thi. Nam vọng Bì Lăng, Chấn Trạch, liên sơn thanh dĩ tương thuộc, quyết cao sàm vân, vũ khí nhật quang tham thác xuất chư phong thượng. Thủy âm thượng bạc, đãng ma hạp khai, biến diệt vô thuấn tức định. Kỳ ngoại thương yên diểu ái vi liễu, quang sắc thuần thiên, quyết tí cùng thê, thần dữ cực trì. Nham chi lộc vi Phất Thủy sơn trang cựu chỉ, Tiền Mục Trai chi sở thường cư dã. Ta phu! Dĩ tư khâu chi thắng, Tiền thị võng bất năng tàng ư thử chung yên, dư dữ Dị Châu nãi lạc nhi bất năng khứ vân. Nham a vi Duy Ma tự, kinh loạn, thái bán hủy hỹ.
Xuất tự Tây hành thiểu chiết, du lĩnh nhi Bắc, vân hải hoát công, yểu nhược thiên ngoại, nhi Lang Sơn hốt yên tại tiền, kim chỉ vị Dị Châu: “Nhất tích du kì thượng dã.” Hựu Tây hạ, vi Tam Phong tự, sở tại thất vũ, mỗi mỗi khả khế tức. Lâm vọng đa cổ thụ, hữu La Hán Tùng nhất chu, bác thoát quyền ngốc, loại sổ bách niên vật. Tự tăng câu tửu quả duẩn nhi hướng dư lưỡng nhân dĩ, nhật trắc hỹ. Tuần sơn Bắc quá An Phúc tự, Đường nhân Thường Kiến thi sở vị Phá Sơn tự giả dã. U thúy xưng kiến thi ngữ. Tự đa mộc tê hoa, tự tự dĩ vãng, phương phức tái đồ.

Phản tự Thường Thục Bắc môn, chí Ngôn Tử, Trọng Ung mộ, kỳ thượng vi Tân Phong đình. Nhật dĩ tịch, sơn kính nguy trắc bất khả thượng, kì dĩ dực nhật vãng. Phong vũ, phục bất quả. Nhị thập tứ nhật toại phóng chu thú Ngô Môn. Hành sổ thập lí, Ngu Sơn do uyển diên tại phong hộ, vọng chi liễu nhiên, lịnh nhân dục phản trạo phục chí yên.
Dịch nghĩa: Ngày 18, (ta) cùng Lê Thuần Trai đi du ngoạn núi Lang Sơn, ngồi ở lầu Tụy Cảnh mà ngắm Ngu Sơn, cảm thấy vui thích (lắm). Ngày 21, mua thuyền qua sông, từ sáng sớm đã tới Thường Thục. Lúc này Triệu Huệ Phủ ở Dịch Châu vừa giải chức (từ quan) bỏ về, sống ở Thường Thục, y bèn cùng bọn ta nhất loạt đi ngoạn cảnh ở núi đó.
Mặt sau Ngu Sơn hướng về phía Đông nhập vào thành Thường Thục, ra ngoài thành chạy về hướng Tây, tiếp liền hai mươi dặm, bốn mặt đều là đồng không khoáng đãng, có lưng núi chạy suốt vào bên trong. Thứ tuyệt diệu nhất ở đấy phải kể đến hang Phất Thủy, hòn cự thạch cao chừng mười thước, lớp lớp xếp chồng, cao ngạo trùng điệp, ví như nấm mọc chất tầng, tựa hồ bàn thạch nặng cất thành đài cao, (lại có) màu xanh biếc, đỏ tía lốm đốm, lỗ chỗ, rọi sáng tràn cả mắt. Có hai khối đá từ giữa phân ra, gọi là Kiếm Môn, ví như bị (đao) bửa thành đôi mà vẫn đứng sừng sững, thứ kì hình dị dạng (đó) khó có thể mà miêu tả được. Ngồi xổm trong hang mà cúi nhìn, ruộng bằng đồng phẳng mở rộng ra chừng vạn khoảnh. Hồ Dương Trừng khe nước chảy vội, tuôn nguồn dọc ngang khởi tự bên trong rãnh hồ, đẹp đẽ như một bức họa do thiên nhiên phác nên. Từ phía Nam trông ra Bì Lăng, Chấn Trạch, núi xanh xanh biếc quyện liền vào nhau, độ cao của núi đâm xuyên lòng mây, hơi mưa và vừng sáng giao tạp vào nhau lộ ra trên những đỉnh phù vân. Dòng nước trải dài về phía nam, trên mặt sông gần sát đường chân trời, thuận dòng xiết mạnh chợt mở chợt đóng, chớp mắt chưa kịp, chẳng dừng chẳng nghỉ, hiện ra rồi biến mất. Mặt ngoài con sông khói xanh sương mịn quyện quanh thành vòng, hào quang rải khắp bầu trời, giương mắt trông xa, thần trí dạo chơi trong chốn vô cùng. Dưới chân hang động là nơi ở trước của những sơn trang vùng Phất Thủy, (cũng) là chỗ mà Tiền Mục Trai từng ở vậy. Than ôi! Với cái thắng cảnh vùng sơn khâu này, (mới tiếc cho) Tiền tiên sinh (dẫu) thất chí (cũng) không thể ẩn dật cả đời ở đây, ta cùng với Triệu Huệ Phủ vui sướng đến nỗi không muốn rời đi. Bên hang là chùa Duy Ma, (sau khi) kinh qua chiến loạn, hơn một nửa (khoảnh chùa) đã bị hủy hoại.
Ra khỏi cổng chùa từ phía Tây đi đến một khúc ngoặt nho nhỏ, băng qua sườn núi rồi đi về phía Bắc, mây trời biển cả hoát nhiên sáng sủa, mờ mờ ảo ảo thể như một vùng thiên ngoại, liền thấy núi Lang Sơn đột ngột hiện ra trước mắt. Ngay tức thì tôi chỉ tay vào ngọn núi, đứng nhìn Triệu Huệ Phủ mà nói rằng: “Đêm đó (chính ta) đã ngoạn lãm ngay trên này rồi.” Lại đi xuống phía Tây, là chùa Tam Phong, phòng ốc ở nơi đó, gian nào (cũng đều) có thể ngơi nghỉ được. Lúc đến nơi, (ta) nhìn khắp một lượt thấy (bên trong) có nhiều cây cổ thụ, có một gốc Tùng La Hán, bị phanh xẻ trơ trụi, xem ra cũng là giống cây vài trăm năm tuổi. Chúng tăng trong chùa thiết bày rượu lạt, trái cây rồi thì đưa thức ăn đến cho hai người bọn tôi, (khi ấy) trời đã tà tà, bóng đã ngả về Tây. Men theo đường núi đi về phía Bắc lần qua chùa An Phúc, (nơi) Thường Kiến người thời Đường thường làm thơ cho nên còn gọi là chùa Phá Sơn, lời thơ (còn lưu lại trong chùa) u uẩn thâm sâu. Chùa trồng nhiều cây hoa quế, từ chùa đi lại, hương thơm ngào ngạt, nồng nã tóa ra khắp cả một con đường.
Đi ngược từ cửa Bắc thành Thường Thục, đến mộ của Ngôn Tử, Trọng Ung, phía trên là đình Tân Phong. Trời đã vào tối, đường núi hiểm trở, chật hẹp, khó lòng bước tiếp, đành chờ đến ngày mai lại cất gót. Mưa gió lại không dứt. Ngày 24, ta bèn phóng thuyền rảo tới Ngô Môn. Đi chừng mười dặm, (ngoái đầu nhìn lại thấy) Ngu Sơn hãy còn ngoằn nghèo, quanh co ngay từ cửa thuyền lợp cỏ bồng (mà nhìn ra), ngưỡng vọng về núi mà thực như đã liễu ngộ, cứ khiến người ta muốn quay mái chèo (rẽ sóng) mà đến nữa (chẳng nỡ rời).
Chú thích:
(1) Lang sơn: Nằm ở phía Nam Giang Tô thành phố Nam Thông.
(2) Thường Thục: Một thành phố ở Giang Tô. Được xưng tụng là “Giang Nam phúc địa” 江南福地.
(3) Hang Phất Thủy: Nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Giang Tô trên đỉnh phía Nam núi Ngu Sơn, “bước vào hang cốc, nước suối ví như một tấm lụa đào, khi gió phất phơ vỗ về, tức thì màn nước trở mình bay ngược, tung tóe như mưa” (下臨壑谷,水泉如練,風拂掠之,則水倒飛,噴濺如雨 – Hạ lâm hốc cốc, thủy tuyền như luyện, phong phất lược chi, tắc thủy đảo phi, phún tiễn như vũ) (Tô Châu phủ nhất 蘇州府一)
(4) Hồ Trừng: Tức chỉ hồ Dương Trừng nằm ở phía Nam thành phố Thường Thục.
(5) Bì Lăng: Tên của kinh đô cũ, chỉ Trấn Giang, Thường Châu, đất Vô Tích. Chấn Trạch: Tức chỉ Thái Hồ.
(6) Tiền Mục Trai: Tiền Khiêm Ích, tự là Thụ Chi, hiệu là Mục Trai, người Thường Thục, là một nhà văn nổi tiếng thời Minh – Thanh, đỗ Tiến sĩ vào khoảng giữa đời Minh từ năm 1573 đến năm 1620. Sau đó giữ chức Lệ bộ thượng thư, khi quân Thanh xuống phía Nam, dẫn binh mà nghênh chiến với quân địch, phẩm quan được phong đến chức Lễ bộ thị lang. Sau vì để mất khí tiết dân tộc nên nhiều kẻ sĩ không thường nhắc đến nữa.
(7) Thường Kiến: Người đời Thạnh Đường, thường lấy đề tài “sơn, thủy, yên, hoa, tuyết, nguyệt, phong” mà làm thơ. Có trước tác tập “Thường Kiến tập”, có bài thơ ngũ luật “Phá sơn tự hậu thiền viện” 《破山寺後禪院》lưu danh đời đời.
(8) Ngôn Tử: Học trò của Khổng Tử, tên là Ngôn Yển 言偃, tự là Tử Du. Trọng Ung: Em trai của Ngô Thái Bá, sau được làm vua, là người kiến lập nước Ngô. Mộ của Ngôn Yển và Trọng Ung đều ở Ngu Sơn. Trong Sử Ký, phần Ngô Thái Bá thế gia 吳太伯世家 có viết: “Ngô địa kí có nói rằng: “Mồ của Trọng Ung ở trên núi Ngu Sơn, phía Tây Nam thành Thường Thục, quê hương nước Ngô, cùng một chỗ với mồ của Ngôn Yển” (仲雍塚在吳鄉常熟縣西南虞山上,與言偃塚並列)
Nguyễn Thanh Lộc dịch
Nguồn: https://baike.baidu.com/item/%E6%B8%B8%E8%99%9E%E5%B1%B1%E8%AE%B0/9532873